This text will be replaced

forum benh gan
  • Mật gấu và những...
  • Có nên dùng thuốc...
  • UNG THƯ GAN- Những...
  • Làm thế nào để giúp...
  • Làm thế nào để phát...
  • Đã xuất hiện sản...
  • LỰA CHỌN MỚI THAY...
  • Nguyên tắc ăn uống...
  • Bỏ rượu, cứu gan !
  • 10 lưu ý để gan khỏe...
  • 9 bí quyết giúp gan...
  • Mật gấu thật và...
  • Công dụng của mật gấu
  • Viêm gan B - bệnh nguy...
  • Mật gấu trong đông y
  • Béo phì là ’đường...
  • Ung thư gan dễ chữa...
  • Uống mật gấu coi...
  • Mắc bệnh gan do uống...
  • Hành, kiệu muối bị...
  • Rượu vang đỏ có...
  • Các cách giải rượu
  • Giã rượu bằng kinh...
  • Vì lá gan khỏe mạnh
  • Gan nhiễm mỡ, bệnh...
  • Viêm gan B - Những...
  • Chức năng gan và...
  • Làm gì để tốt cho gan?
  • 2 món thịt mà người...
  • Những món dùng cho...
  • Bệnh viêm gan siêu vi B...
  • 5 xét nghiệm không nên...
  • 10 điều cấm kị khi...
  • Nuôi gấu lấy mật -...
  • Phân biệt u gan lành...
  • Kiến thức cơ bản...
  • Thông tin về bệnh...
  • Hết thời hoàng kim,...
  • Giới thiệu sản phẩm:
  • BẢO VỆ LÁ GAN CỦA...
  • KẾ SÁCH GIÚP BẠN...
  • TÌM HIỂU CHỨNG BỆNH...
  • Thông tin về chế ðộ...
  • Cảnh báo về nguy cơ...
  • Để phòng ngừa bệnh...
  • Dùng thuốc chữa bệnh...
  • Thức ăn chữa bệnh gan
  • Công dụng của mật...
  • URSA-S - phục hồi và...
  • Lựa chọn mới thay...
  • Hiểm họa từ virut...
  • Ung thư gan thường...
  • Ăn uống với người...
  • Rượu bia – “kẻ...
  • Tuổi chưa tàn,gan đã...
  • Uống rượu nướng gan
  • Nhậu – phần tất...
  • Tiệc tùng khách khứa...
  • Tửu bàn nửa gánh,...
  • Một thời oanh liệt...
  • Giật mình, mình lại...
  • Món quà đầu năm (HOT)
  • Tặng quà cũng là một...
  • Ngày tết nói chuyện...
  • Chế độ ăn uống...
  • Tác hại của rượu...
  • Rượu:
  • Kinh hoàng
  • Giật mình chuyện...
  • Rượu bia cần được...
  • Giàu đâu những kẻ...
  • Lạm dụng rượu bia...
  • Bạn sợ nhất điều...
  • CÔNG DỤNG CỦA...
  • Tử vong vì uống mật...
  • Chế độ dinh dưỡng...
  • Những điều cần...
  • Viêm gan B lây nhiễm...
  • Ung thư gan: Những...
  • Phát hiện ung thư gan
  • Rượu, thuốc lá làm...
  • Men rượu “hạ...
  • Bia rượu và…...
  • Bạn đã thực sự...
  • Nhiễm virut viêm gan B...
  • Mối nguy hiểm do viêm...
  • Virut viêm gan C - Kẻ...
  • Thức ăn chữa bệnh gan
  • Bệnh Viêm Gan C
  • Ngứa da không nên xem...
  • Phòng và điều trị...
  • Sạm da và cách điều...
  • 4 cử chỉ đơn giản...
  • Ngộ độc vì nuốt...
  • Hãy tìm hiểu về lá...
  • Món ăn giúp giải rượu
  • Bệnh gan nhiễm mỡ
  • Nếu phải uống rượu...
  • Tác dụng chữa bệnh...
  • Nguyên tắc ăn uống...
  • Gan nhiễm mỡ và cách...
  • Điều trị viêm gan...
Theo Đông Y, mật gấu ngựa còn gọi là hùng đởm, được xem là vị thuốc quý đứng đầu trong các loại mật động vật. Mật gấu ngựa có vị đắng, tính hàn, tác động vào 3 kinh: tâm, can và vị, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, ác thương, chống chức mỏi, đau lưng, vàng da, đau dạ dày, trợ tiêu hóa…Vì hiệu quả như vậy nên mật gấu ngựa được người Việt Nam nói riêng và người châu Á nói chung vô cùng ưa chuộng. Tuy nhiên, hiện nay việc nuôi gấu ngựa và khai thác mật gấu cũng như các bộ phận khác từ gấu đã bị luật pháp nghiêm cấm và dư luận xã hội lên án.
 

Mật gấu ngựa dưới góc độ nghiên cứu của Tây Y

Năm 1902, Hammerstan, một giáo sư người Thụy Điển, phát hiện ra thành phần chính tạo nên tác dụng kì diệu của mật gấu ngựa là UDCA - Ursodeoxycholic acid. UDCA có tác dụng tăng cường sức khỏe, chống mệt mỏi uể oải, chống stress, giúp tăng cường khả năng giải độc của gan, bảo vệ và phục hồi chức năng gan trong viêm gan do rượu, viêm gan mạn, hỗ trợ điều trị ung thư gan, ruột, phòng ngừa ung thư ruột già,…UDCA đã được Cục Quản Lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận là thuốc làm tan sỏi mật, phòng ngừa sỏi mật và xơ gan tắc mật nguyên phát.


Mật gấu ngựa thật sự rất tốt nhưng với cách nuôi và khai thác mật thủ công đã cho ra những loại mật gấu kém chất lượng, kém vệ sinh thậm chí có khi bị nhiễm cả mủ do vết chích bị ap-xe,…
Vì vậy, giải pháp an toàn nhất là dùng UCDA tổng hợp thay cho mật gấu ngựa.

Hiện nay, trên thị trường các nhà thuốc đã xuất hiện sản phẩm DaewoongURSA-S. Đây là sản phẩm đầu tiên tại Việt Nam chứa UDCA dưới dạng viên nang mềm, một sản phẩm thay thế cho mật gấu tự nhiên đã bị cấm khai thác.

Mỗi viên nang mềm DaewoongURSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết (tương đương 1cc mật gấu ngựa tươi hoặc 250mg mật gấu ngựa khô) được sản xuất bằng công nghệ hiện đại, hiệu quả điều trị cũng như tính an toàn cho người sử dụng đã được chứng minh và chấp nhận ở hơn 50 quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Anh, Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Hàn Quốc...Về hiệu quả kinh tế, một viên nang mềm DaewoongURSA-S có giá thấp hơn nhiều so với 1 cc mật gấu ngựa tươi và cách dùng cũng thuận tiện hơn.

Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh DaewoongURSA-S có tác dụng: Tăng cường sức khỏe, chống mệt mỏi, uể oải, giảm stress ; giúp phục hồi và bảo vệ gan trước và sau khi uống rượu ; giải độc gan do thuốc, do độc chất trong thực phẩm, môi trường, phục hồi và bảo vệ gan trong các bệnh gan cấp tính và mạn tính,…

Giờ đây, người Việt Nam đã có một chọn lựa an toàn, hiệu quả và kinh tế trong việc chăm sóc sức khỏe và bảo vệ hữu hiệu lá gan hoạt động liên tục của mình, đồng thời góp phần bảo vệ sự sinh tồn của loài gấu ngựa quý hiếm đang trên đà tuyệt chủng.

Vì sao mật gấu lại được xem là một loại thuốc hết sức quý hiếm, chữa được rất nhiều bệnh? Từ xưa đến nay, mật gấu ngựa luôn được xem là dược liệu quý giá với những tác dụng tuyệt vời trên sức khỏe và gan mật. Nhận thức về tác dụng tốt của mật gấu đã hết sức rộng rãi trong dân chúng, nhất là các nước Hàn, Trung Quốc, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Theo kinh nghiệm dân gian, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, ác thương, chống chức mỏi, đau lưng, vàng da, đau dạ dày, trợ tiêu hóa…Vì hiệu quả như vậy nên mật gấu ngựa được người Việt Nam nói riêng và người châu Á nói chung vô cùng ưa chuộng.

Theo Y học hiện đại, thành phần chính tạo nên hiệu quả điều trị của mật gấu ngựa chính là chất UDCA (ursodeoxycholic acid). Thông thường, 1cc mật gấu ngựa tươi có khoảng 50mg UDCA. UDCA đã được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trong y học hiện đại, là thuốc điều trị và hỗ trợ trong gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, viêm gan mạn, xơ gan tắc mật nguyên phát, làm tan sỏi mật, hỗ trợ điều trị ung thư: gan, ruột, phòng ngừa ung thư ruột già,…UDCA đã được Cục Quản Lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận là thuốc làm tan sỏi mật, phòng ngừa sỏi mật và xơ gan tắc mật nguyên phát hơn 20 năm nay.

 

Hiện nay tại Việt Nam, việc khai thác và buôn bán mật gấu là trái phép

Gấu là một trong những loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất hiện nay ở Việt Nam. Chúng bị săn bắt và nuôi nhốt để đáp ứng nhu cầu mật rất lớn trên thị trường. Vì vậy, hiện việc nuôi gấu ngựa và khai thác mật gấu cũng như các bộ phận khác từ gấu đã bị luật pháp nghiêm cấm và dư luận xã hội lên án. (Theo thống kê  năm 2006, có khoảng có 5.000 con gấu bị nhốt để lấy mật tại Việt Nam).

 

Liệu có loại thuốc hay dược liệu nào có thể thay thế được mật gấu ngựa hay không? Và chất lượng cũng như hiệu quả của các thuốc này có đảm bảo hay không?

Chất UDCA (ursodeoxycholic acid) - thành phần chính tạo nên các tác dụng điều trị của mật gấu ngựa, đã được y học hiện đại quan tâm nghiên cứu và ứng dụng điều trị rộng rãi từ lâu tại nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc,…

Về chất lượng và hiệu quả điều trị, mật gấu khai thác không đúng quy cách, không đảm bảo thời gian, phương pháp,…sẽ không đạt tiêu chuẩn chữa bệnh, trên thị trường thường là loại mật xanh kém chất lượng, đôi khi người mua còn lầm giữa mật gất thật (gấu ngựa) với các loại mật khác (gấu chó, mật vịt,…), như vậy hàm lượng chất UDCA trong mật gấu sẽ không cao. Chưa kể do những chủ khai thác lưu ống thông lâu dài trong đường mật dễ gây áp-xe trong điều kiện sát trùng qua loa bằng…rượu lúa mới, khiến mật lấy được có lẫn nhiều cặn mủ. Vì vậy, mật trên thị trường hiện nay thường không đảm bảo chất lượng và lẫn nhiều tạp chất, không những không có tác dụng điều trị tốt mà còn có nguy cơ gây hại cho người sử dụng.

Ngược lại, các sản phẩm chứa UDCA (phổ biến như DAEWOONGURSA-S,…) được tổng hợp bằng công nghệ hiện đại, tinh khiết và hàm lượng định chuẩn rõ ràng cho mỗi viên, gọn nhẹ, tiện dụng, kinh tế hơn so với mật gấu lấy từ thiên nhiên. Chất lượng, tính an toàn và hiệu quả điều trị của các sản phẩm này đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu lâm sàng trên người bệnh, đã được kiểm chứng lâu dài tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó đặc biệt đã được Cục Quản Lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận trong nhiều năm qua. Chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng, hiệu quả và tính an toàn của các sản phẩm thay thế mật gấu này.

Ung thư Gan: những con số đáng sợ Theo thống kê của Hội Ung thư toàn cầu 2008, Việt Nam là nước có tỷ lệ ung thư gan đứng thứ 2 trên thế giới. Ở nam, ung thư gan là loại thường gặp nhất. Ở phụ nữ, ung thư gan chỉ đứng sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung. Trong những năm gần đây, ung thư gan đang có dấu hiệu gia tăng rất nhanh.(1)



Vì sao bị ung thư gan?

Ung thư gan có nhiều nguyên nhân và yếu tố nguy cơ, nhưng viêm gan siêu vi & xơ gan do rượu là 2 nguyên nhân gây bệnh chính. Trong đó, Xơ gan do rượu là nguyên nhân thường gặp nhất.

Quá trình tiến triển dẫn đến ung thư gan

Viêm gan thật sự là một “Tử thần thầm lặng”,tiến triển nhiều năm rồi dẫn đến Xơ gan, Ung thư gan. người bệnh hầu như không có triệu chứng cho đến khi phát hiện bệnh thì đã quá muộn.

Giai đoạn đầu khi tế bào gan bị viêm,người bệnh thường chỉ có cảm giác mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đầy bụng sau khi ăn, sợ một số thức ăn chứa nhiều dầu mỡ, đôi khi đau tức vùng dưới sườn phải.

Phòng bệnh như thế nào?

Tiêm phòng viêm gan siêu vi B,C, hạn chế uống rượu, tập thể dục, ăn uống chế độ nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế mỡ động vật,..Ngoài ra có thể dùng một số chế phẩm hỗ trợ nhằm bảo vệ gan hữu hiệu.

Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh viên nang mềm URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết (tương đương 1cc mật gấu ngựa tươi) có tác dụng rất tốt trong việc bảo vệ tế bào gan, cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ và tình trạng viêm gan do rượu (gan nhiễm mỡ là giai đoạn sớm, sẽ dẫn đến xơ gan). Vậy, hãy bảo vệ gan của bạn và người thân trước khi quá muộn

 

* Khi có cảm giác mệt mỏi, khó tiêu, chán ăn, buồn nôn, đầy bụng do những rối loạn chức năng gan mật

* Khi muốn bảo vệ và phục hồi các tế bào gan trước và sau khi uống rượu

Hãy sử dụng URSA-S, 1 viên x 2- 3 lần mỗi ngày, uống sau bữa ăn.

URSA-S BẢO VỆ VÀ PHỤC HỒI GAN

BS. Nguyễn Đình Hiệp

Chiều thứ sáu cuối tuần, tôi ngồi trong quán nhậu cùng mấy ông bạn thân, nhâm nhi vài ly bia thưởng thức cái hương vị của sự thư giãn sau một tuần làm việc căng thẳng. Nguyễn T. Đ, một doanh nhân cũng khá thành đạt, có tửu lượng khá cao, cười khoe : Công việc của mình cứ phải tiếp khách liên tục, một tháng có ba mươi ngày, mình nhậu hết ba mươi mốt ngày, riết rồi tửu lượng phải cao thôi. Hoàng C.D., trưởng phòng kinh doanh một công ty lớn của nước ngoài, than: Hồi trước tửu lượng tớ còn cao hơn cậu, nhưng dạo này uống chỉ mới bằng một nửa đã thấy mệt, người cứ nổi ngứa khắp nơi, chắc là lá gan tớ sắp tiêu tùng rồi. Kẹt cái vì công việc cứ phải chiến đấu hoài....
Những lời tâm sự đại loại như vậy tôi rất thường hay nghe trong các buổi tiệc rượu, đãi đằng,...giữa các đấng mày râu, những người đại diện cho phái mạnh luôn muốn chứng tỏ bản lĩnh của mình. Một thực tế mà ai cũng biết, là bia rượu sẽ gây tổn hại nhiều cho sức khỏe, nhất là gây ra tổn thương gan - nơi đầu tiên và quan trọng nhất để giúp cơ thể thải những chất độc trong quá trình chuyển hóa rượu bia khi vào cơ thể. Nhưng sếp gọi, bạn bè chiến hữu gọi, đối tác mời,... thế kẹt biết làm sao!

Rượu (ethanol) khi vào dạ dày, ruột, theo máu vào gan đầu tiên, sẽ bị chuyển hóa thành acetaldehyde. Chất này có tính ôxy hóa rất mạnh và cực kỳ độc hại cho gan, gây tổn thương, hoại tử tế bào gan, viêm gan, rồi có thể được chuyển hóa thành chất béo gây tình trạng gan nhiễm mỡ,...Người uống rượu nhiều và kéo dài nhiều năm, nhẹ thì mệt mỏi, uể oải, dễ bị dị ứng, ²xuống đô² như ông bạn của tôi, còn nặng hơn, sẽ có nguy cơ rất cao bị viêm gan mạn tính do rượu, gan nhiễm mỡ, xơ gan, ung thư gan,...



Các sếp cũng đã có nhiều ²độc chiêu² nhằm bảo vệ lá gan và giữ vững ²phong độ² của mình. Hạn chế rượu bia là biện pháp tốt nhất, nhưng không phải dễ thực hiện. Một số người dùng các thuốc giải rượu trước khi vào cuộc, nhưng đó chỉ là giải pháp tình thế ngắn hạn chứ không giúp ích về cơ bản lâu dài. Tăng cường tập luyện thể dục, chế độ ăn uống cân đối với đầy đủ chất dinh dưỡng, sinh tố,...là những biện pháp căn bản không thể thiếu. Bên cạnh đó, một số thuốc bổ trợ gan cả Đông và Tây y cũng được các Sếp tuyển chọn. Ở Việt Nam, thường các bài thuốc dân gian rất được ưa chuộng vì khả năng bảo vệ lâu dài và tính an toàn của chúng, từ các loại thảo dược (như artiso, nghệ, đậu nành, diệp hạ châu,...) cho đến các chế phẩm từ động vật, trong đó đặc biệt nhất là mật gấu ngựa. Đây là một loại thuốc rất quý hiếm và đắt tiền, nhờ công dụng giải độc gan, bảo vệ tế bào gan, chống nhức


Do mật gấu có nhiều công dụng tốt như vậy mà cách đây vài năm ở Việt Nam đã nở rộ phong trào nuôi gấu lấy mật để bán, đẩy loài Gấu Ngựa đến nguy cơ sắp tuyệt chủng cũng như mật ngày càng giảm chất lượng do nuôi và khai thác không đúng cách. Tuy nhiên, hiện nay việc nuôi gấu ngựa và khai thác mật gấu cũng như các bộ phận khác từ gấu đã bị luật pháp nghiêm cấm và dư luận xã hội lên án. Vấn đề là cần tìm những biện pháp khác thay thế cho loại mật gấu kì diệu này. Rất may mắn cho các Sếp là y học hiện đại thế giới đã tìm ra thành phần chính của mật gấu ngựa là chất UDCA (Ursodeoxycholic acid), và đã tổng hợp thành công được dược chất quý giá này. Gần đây tại các nhà thuốc ở Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện chế phẩm Daewoong URSA-S dưới dạng viên nang mềm chứa thành phần UDCA như trong mật gấu.


Đây thật sự là tin vui cho các Sếp, vừa an tâm bảo vệ lá gan của mình đồng thời không phải lo lắng về số phận của loài gấu đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Không có cơ quan nào khác trong cơ thể lại có nhiều huyền thoại như gan. Thậm chí người ta thường dùng từ "gan" để mô tả những tính cách, tình huống như: "to gan", "nhát gan", "không có gan",… Nhưng bạn thực sự hiểu biết về lá gan của mình được bao nhiêu? Chỉ khi gan khỏe mạnh, chúng ta mới có được cuộc sống khỏe mạnh, một cơ thể cường tráng. Một số đặc điểm quan trọng của gan:

tôi phải ngủ nghiêng về bên trái-    Gan đảm nhận trên 500 chức năng khác nhau, là 1 trong những cơ quan phức tạp bậc nhất trong cơ thể
-    Gan hoạt động liên tục 24/24 trong suốt cuộc đời bạn. Gan sẽ càng ngày càng suy yếu theo tuổi tác.
-    Gan là một cơ quan thầm lặng, không bao giờ biểu hiện triệu chứng bệnh trừ khi bị tổn thương trầm trọng. Khi nhận ra triệu chứng thì gan đã bị tổn thương quá nặng, khó phục hồi
-    Phần lớn bệnh gan bắt đầu từ những thói quen không tốt: rượu bia, thuốc lá nhiều,…
-    Nhiều rối loạn do gan như mệt mỏi, ăn uống kém, khó tiêu, gan nhiễm mỡ, các rối loạn ở da do gan như khô nhám, nổi mụn,…có thể ngăn ngừa được bằng chế độ ăn uống, thể dục và chăm sóc gan mỗi ngày

Làm thế nào để phát hiện lá gan của bạn bắt đầu suy yếu? Hãy kiểm tra sức khỏe gan của bạn ngay từ bây giờ!
  1. Ngay cả sau khi nghỉ ngơi, tôi vẫn cảm thấy mệt mỏi                                 [   ]
  2. Dễ dàng bị kích động hơn trước đây                                                         [   ]
  3. Tôi cảm thấy đau hạ sườn phải                                                                 [   ]
  4. Tôi thường bị khó tiêu, chán ăn, bụng căng cứng                                        [   ]
  5. Hơi thở có mùi hôi                                                                                    [   ]
  6. Da khô nhám, nổi mụn                                                                             [   ]
  7. Do cảm giác khó chịu bên phần vai phải, tôi phải ngủ nghiêng về bên trái                                                                                                         [   ]
  8. Dễ bị cảm lạnh và đau bụng thường xuyên                                               [   ]  
  9. Vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng đậm                                                   [   ]
  10. Răng lợi thường bị chảy máu, dễ dàng bị thâm tím                                     [   ]
(Ghi chú: mỗi câu nếu có là 01 điểm)

o    0 – 2: Gan của bạn vẫn khỏe mạnh và được chăm sóc tốt
o    3 – 4: Gan biểu hiện những dấu hiệu cảnh báo
o    Từ 5 trở đi: Tình trạng bệnh gan ngày càng nặng hơn. Bạn cần được bác sĩ tư vấn để biết mình có bệnh gan hay không
(Bảng liệt kê tự kiểm tra chức năng gan trên đây chỉ là những câu hỏi chung. Để chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả, bạn nên được bác sĩ khám và tư vấn)



Một số biện pháp hữu hiệu để chăm sóc lá gan của bạn:

1.    Tập thể dục hàng ngày để kiểm soát trọng lượng cơ thể, giúp gan khỏe hơn và phòng tránh gan nhiễm mỡ
2.    Ăn uống đủ chất dinh dưỡng 3 bữa mỗi ngày giúp tăng cường sức khỏe của gan
3.    Giảm bia rượu: nên từ bỏ thói quen uống quá 2 ly thức uống có cồn mỗi ngày
4.    Hãy tập thói quen uống URSA-S (sản phẩm thay thế mật gấu), 3 lần mỗi ngày vì lá gan khỏe mạnh

 
BS. NGUYỄN ĐÌNH HIỆP

DaewoongURSA-S hiện đang có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Chi tiết thông tin về sản phẩm, vui lòng liên hệ hotline: * Hồ Chí Minh: 08.3526 5751 * Hà Nội: 04.2216 2259 * Đà Nẵng: 0511. 2460602

Chỉ định:

1. Bảo vệ và phục hồi tế bào gan trước tác hại của Bia rượu:

- UDCA có tác dụng rất tốt trong việc thúc đẩy nhanh quá trình đào thải các độc chất sinh ra trong quá trình chuyển hoá rượu tại gan, qua đó giảm tình trạng mệt mỏi, giảm đau đầu sau khi uống rượu bia.
- UDCA giúp giảm mạnh tình trạng viêm gan do rượu, giảm sự huỷ hoại tế bào gan do rượu, giảm men gan trong gan nhiễm mỡ do rượu.

2. Tăng cường sức khoẻ, chống mệt mỏi, uể oải, giảm stress.

3. Điều trị chứng khó tiêu, chán ăn, mệt mỏi do những rối loạn gan mật.

4. Điều hoà cholesterol máu: giảm LDL là một cholesterol có hại, tăng HDL là một cholesterol có lợi.

5. Cải thiện chức năng gan trong bệnh gan mãn tính: Giảm men gan trong gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, viêm gan do béo phì, vàng da, người hay bị mụn nhọt, dị ứng ..

Giá niêm yết: 250,000vnđ/hộp 60viên
“Mỗi viên nang mềm chứa 50mg UDCA, tương đương 1 cc mật gấu ngựa tươi”, đó là thông điệp mà DAEWOONG URSA-S – sản phẩm thay thế hoàn toàn cho mật gấu tự nhiên – đưa đến cho công chúng Việt Nam trong tuần lễ “NGÀY HỘI TRẢ LẠI SỰ BÌNH YÊN CHO LOÀI GẤU” từ 17-25/11/2007 vừa qua tại Thảo Cầm Viên TP.HCM, do Trung Tâm Giáo Dục Thiên Nhiên ENV (Education of Nature Vietnam) tổ chức với sự tài trợ của Hiệp Hội Bảo Tồn Động Vật Thế Giới WSPA (World Society for the Protection Animals).

Theo ENV, mật gấu đã được sử dụng trong y học cổ truyền từ cách đây 3000 năm và trước đây con người thường giết gấu để lấy túi mật. Ngày nay thu nhập của người dân tăng cao và ngày càng có nhiều người có thể tiếp cận với những thứ thuốc đắt tiền như mật gấu. Chính vì thế, gấu thường bị bắt sống và bị bán cho các trang trại nuôi nhốt, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Nghệ An, TP.HCM và Bình Dương, chiếm 76% cả nước. Theo khảo sát của ENV 2004, khoảng 30% dân số Hà Nội thừa nhận đã từng sử dụng mật gấu ít nhất 1 lần trong vòng 1 năm trở lại. Đối tượng sử dụng mật gấu chủ yếu là nam giới có độ tuổi từ 26 trở lên.



Theo các chuyên gia y học hiện đại, thành phần chính tạo nên tác dụng điều trị của mật gấu ngựa là UDCA (Ursodeoxycholic acid). UDCA có tác dụng tăng cường sức khỏe, chống mệt mỏi uể oải, chống stress, giúp tăng cường khả năng giải độc của gan, bảo vệ và phục hồi chức năng gan trong viêm gan do rượu, viêm gan mạn, hỗ trợ điều trị ung thư gan, ruột, phòng ngừa ung thư ruột già,…UDCA đã được Cục Quản Lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận là thuốc làm tan sỏi mật, phòng ngừa sỏi mật và xơ gan tắc mật nguyên phát.

Nhu cầu sử dụng mật gấu đang là mối đe dọa rất lớn đến các loài gấu Việt Nam. Gấu thường bị săn bắt, bẫy từ tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thị trường. Tại Việt Nam, hai loài gấu ngựa và gấu chó được liệt kê trong các loài động vật bị cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Theo cục kiểm lâm, cả nước có trên 4000 con gấu bị nuôi nhốt, trong đó chủ yếu là gấu ngựa. Theo các chuyên gia, số gấu bị nuôi nhốt ở VN còn nhiều hơn số gấu ngoài tự nhiên.

Với thực trạng báo động trên, ENV phối hợp cùng WSPA tổ chức tuần lễ triển lãm "TRẢ LẠI SỰ BÌNH YÊN CHO LOÀI GẤU" từ ngày 17-25/11/07 vừa qua tại Thảo Cầm Viên TP.HCM, với mong muốn công chúng sẽ hiểu rõ hơn về tình trạng các loài gấu của Việt Nam đang phải đối mặt hiện nay để từ đó tham gia tích cực hơn vào việc bảo vệ các loài gấu trong tự nhiên.
Ngoài các hình thức triển lãm tranh ảnh về gấu, diễn kịch, chiếu phim, giao lưu cùng các nghệ sĩ nổi tiếng, vẽ tranh,...triển lãm còn giới thiệu đến công chúng các phương pháp thay thế cho mật gấu, trong đó đặc biệt là DAEWOONG URSA-S. Đây là sản phẩm đầu tiên tại Việt Nam chứa UDCA dưới dạng viên nang mềm, mỗi viên chứa 50mg UDCA tinh khiết (tương đương 1cc mật gấu ngựa tươi) được sản xuất bằng công nghệ bán tổng hợp hiện đại, hiệu quả điều trị cũng như tính an toàn cho người sử dụng đã được chứng minh và chấp nhận ở hơn 50 quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Anh, Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Hàn Quốc...Về hiệu quả kinh tế, một viên nang mềm DAEWOONG URSA-S có giá thấp hơn nhiều so với 1 cc mật gấu ngựa tươi và cách dùng cũng thuận tiện hơn.
Giờ đây, người Việt Nam đã có một chọn lựa an toàn, hiệu quả và kinh tế trong việc chăm sóc sức khỏe của mình, đồng thời góp phần bảo vệ sự sinh tồn của loài gấu ngựa quý hiếm đang trên đà tuyệt chủng.

MINH THÂN
    Thiennhien.net – Xưa nay, theo kinh nghiệm dân gian, mật gấu ngựa vốn được xem là một dược liệu quý giá để chữa bệnh. Tuy nhiên, việc nuôi nhốt và khai thác mật gấu ngựa như hiện nay hoàn toàn thiếu tính nhân văn, không bền vững và đã bị luật pháp nghiêm cấm. Người tiêu dùng nên hướng đến việc sử dụng các sản phẩm thay thế mật gấu, an toàn, kinh tế hơn mà cũng không kém phần hiệu quả.
Gấu nhà đến từ rừng


Việc sử dụng mật gấu chữa bệnh có ở Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước, sau lan truyền sang nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Theo Đông y, mật gấu ngựa còn gọi là hùng đởm, được xem là vị thuốc quý đứng đầu trong các loại mật động vật, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng , chống chức mỏi, đau lưng, vàng da, đau dạ dày, trợ tiêu hóa. Còn trong Tây y, mật gấu được dùng làm tan sỏi mật, hỗ trợ điều trị xơ gan, ung thư gan. Vì được đánh giá cao như vậy nên mật gấu ngựa rất được ưa chuộng. Tuy nhiên, không nhiều người dùng mật gấu biết rằng hầu hết số gấu bị khai thác lấy mật hiện nay đều có nguồn gốc từ tự nhiên. Chúng bị săn bắt và nuôi nhốt để đáp ứng nhu cầu mật rất lớn trên thị trường. Trào lưu nuôi nhốt gấu lấy mật ở nước ta xuất hiện từ khoảng 3 thập kỷ trước, do không được kiểm soát tốt ngay từ đầu nên đã lan rộng trong cộng đồng, tập trung ở một số tỉnh thành lớn như Nghệ An, Hà Tây, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng.

 
Ảnh: AFF
Theo thống kê năm 2006, có khoảng 5.000 cá thể gấu bị nuôi nhốt trên cả nước. Con số trên thực tế có thể còn cao hơn.

Bán và tiêu thụ mật gấu là trái phép

Theo quy định của pháp luật, việc kinh doanh mật gấu là trái phép. Ngày 15/06/2006, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Hứa Đức Nhị đã ký ban hành quy chế về quản lý gấu nuôi, trong đó quy định cấm việc giết mổ, khai thác, vận chuyển và kinh doanh mật và các bộ phận khác của cơ thể gấu; cấm các hoạt động mua bán, quảng cáo, xuất nhập khẩu, tạm nhập – tái xuất khẩu gấu và các sản phẩm gấu trái quy định. Như vậy có thể hiểu rằng việc mua và tiêu thụ mật gấu của công chúng hiện nay đang hậu thuẫn và tiếp tay cho những hành vi vi phạm, mặt khác g óp phần đẩy loài gấu đến bờ vực tuyệt chủng.

Việt Nam có 2 loài gấu là gấu ngựa (Ursus thibetanus) và gấu chó (Helarctos malayanus). Cả hai loài gấu này đều bị đe dọa bởi tình trạng mất môi trường sống và nạn săn bắt, đặc biệt loài gấu ngựa đang bị con người lạm dụng nuôi nhốt để khai thác lấy mật.
 
Trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ Thế giới, chúng đều được xếp vào bậc dễ bị thương tổn. Hai loài này cũng có tên trong phụ lục Công ước buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng CITES và phụ lục IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

Không an toàn như nhiều người lầm tưởng

Cũng vì “khuất mắt trông coi” nên hầu hết người tiêu dùng không hề hay biết rằng tình cảnh gấu bị nuôi nhốt và khai thác lấy mật vô cùng đáng thương. Nếu ai đã từng nghe tiếng gấu tru lên trong các trại nuôi nhốt hẳn khó có thể nguôi ngoai, một thứ âm thanh kéo dài vừa như gầm rú, vừa như tru tréo, vừa hoang dại lại vừa như tiếng cầu cứu của một con người.

Đó là chưa nói đến tình trạng vệ sinh, thú y tại các trang trại nuôi nhốt gấu cũng hết sức cẩu thả, tồi tệ. Có những con đã chết vì bị nhiễm trùng các vết chích, mổ và vết thương khi bị sập bẫy.

Không ai có thể dám chắc đàn gấu đang bị khai thác hoàn toàn khỏe mạnh, mật đạt chất lượng tốt để phục vụ công tác chữa bệnh. Ý kiến chuyên gia cho biết gấu nuôi thường mắc các bệnh tụ cầu trùng, xoắn trùng. Người dùng mật của những con gấu mắc các bệnh này cũng có nguy cơ nhiễm bệnh. Ngoài ra, việc lấy mật không đúng quy cách khiến gấu dễ bị áp xe gan. Rất nhiều trường hợp, người lấy mật không sát trùng kim bằng cồn y tế mà chỉ đơn thuần đổ rượu Lúa Mới lên bụng gấu rồi chọc kim vào khiến gan gấu nhiễm trùng, mưng mủ.

 
Ảnh: DaewoongURSA-S

Nên dùng sản phẩm thay thế mật gấu


Năm 1902, Hammerstan, một giáo sư người Thụy Điển, phát hiện ra thành phần chính tạo nên tác dụng kì diệu của mật gấu ngựa là UDCA - Ursodeoxycholic acid, một loại axít mật chỉ có ở mật gấu ngựa. UDCA có tác dụng tăng cường sức khỏe, chống mệt mỏi, chống stress, giúp tăng cường khả năng giải độc của gan, bảo vệ và phục hồi chức năng gan trong viêm gan do rượu, viêm gan mạn, hỗ trợ điều trị ung thư gan, ruột, phòng ngừa ung thư ruột già,…UDCA đã được Cục Quản Lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận là thuốc làm tan sỏi mật, phòng ngừa sỏi mật và xơ gan tắc mật nguyên phát hơn 20 năm nay.

Thời gian qua, trên thị trường xuất hiện dược phẩm mới DaewoongURSA-S của Tập Đoàn Dược Phẩm Daewoong (Hàn Quốc), do Công ty TNHH Dược phẩm Hiệp Bách Niên phân phối, hiện đang được quảng cáo và bán rộng rãi trên thị trường. Đây là sản phẩm đầu tiên tại Việt Nam chứa UDCA, dưới dạng viên nang mềm. Mỗi viên Daewoong URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết (tương đương 1cc mật gấu ngựa tươi hoặc 250mg mật gấu ngựa khô), được sản xuất theo công nghệ sinh tổng hợp hiện đại.

Với thành công đã đạt được tại nhiều quốc gia khác, hy vọng URSA-S sẽ sớm được người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận. Cũng hy vọng rằng trên thị trường sẽ có thêm nhiều sản phẩm thảo dược thay thế, để người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, thay vì chỉ nghĩ đến mật gấu mỗi khi đau nhức, có bệnh.

Hồng Phượng - thiennhien.net


Giảm mỡ là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất mà bệnh nhân gan mật cần nhớ khi lập thực đơn. Việc ăn nhiều mỡ sẽ làm hại các tế bào gan và dần dần giết chết chúng.

Khi tế bào gan bị tổn thương, ở bào tương của nó lập tức xuất hiện những hạt mỡ. Đó là hiện tượng thoái hóa mỡ của tế bào gan. Hạt mỡ lớn dần, có thể bóp nghẹt nhân tế bào và giết chết tế bào đó. Vì vậy, bệnh nhân gan mật cần phải giảm mỡ trong chế độ ăn.

Các nguyên tắc khác:

Tăng glucid: Bình thường, một phần glucid của chế độ ăn được dự trữ trong gan dưới dạng glucogen. Chức năng chuyển hóa và dự trữ glucogen rất quan trọng vì nó làm cho gan phát huy được vai trò giải độc. Khi gan bị tổn thương, dự trữ glucogen giảm nên bệnh nhân phải tăng glucid trong chế độ ăn để tăng dự trữ glucogen, giảm sự xâm nhập mỡ vào gan.

Tăng protid: Protid được cung cấp nhiều sẽ làm tăng khả năng tái tạo tế bào của cơ thể, trong đó có tế bào gan đang bị tổn thương vì bệnh. Gan có chức năng tăng lượng prrotid của huyết tương và là nơi tập trung protid trước khi nó được phân bổ đi khắp cơ thể. Khi gan bị bệnh mạn tính, nhất là xơ gan, hiện tượng giảm protid máu thường xảy ra. Do vậy, việc giảm protid ở chế độ ăn sẽ gây bất lợi.

Tăng cường sữa: Methionin (acid amin có nhiều trong đạm của sữa) giúp tổng hợp cholin, một chất chống lại sự xâm nhập mỡ vào tế bào gan bằng cách chuyển lipid từ gan đến tổ chức mỡ dưới da. Do đó, chế độ ăn có nhiều sữa giúp bảo vệ gan rất tốt.

Tăng các loại vitamin: Ngoài chức năng chuyển hóa protid, gan còn có chức năng quan trọng là đồng hóa các vitamin tan trong dầu (A, D, E, K). Khi gan bị bệnh, cơ thể thiếu các vitamin này. Đặc biệt, việc thiếu vitamin K có thể gây chảy máu do giảm tỷ lệ prothrombin huyết thanh.

Đủ nước, giảm muối nếu có cổ chướng: Nên uống nước quả, nước rau luộc, nước ép trái cây cùng với chế độ ăn mềm, lỏng. Nếu uống nhiều nước và ăn mặn sẽ làm mức độ cổ chướng tăng nhiều hơn.

Bỏ các thức uống có tính kích thích, gây độc cho gan: Không dùng rượu, bia, cà phê, chè đặc. Nên dùng các thức uống, đồ ăn có tính lợi mật, nhuận gan như: chè nhân trần, artiso, hạt dành dành, nghệ, lá gai, lá chanh...

TS Nguyễn Thị Lâm, Sức Khỏe & Đời Sống
TT - BS Nguyễn Thị Xuân Yến (BV Nhân Dân 115, TP.HCM) Uống rượu bia quá nhiều và thường xuyên có thể gây tổn thương, ảnh hưởng nhiều cơ quan, nhất là gan


Hình ảnh một bệnh nhân bị xơ gan do rượu, với biểu hiện vú to như phụ nữ, teo cơ, bụng trướng to - Ảnh tư liệu bệnh viện

Gan nhiễm mỡ: là tình trạng mỡ tích tụ trong tế bào gan làm suy giảm chức năng gan do rượu gây ra. Khi đó gan to, vàng, có mỡ và rắn chắc. Bệnh nhân gan nhiễm mỡ không có triệu chứng, một số ít người có thể có cảm giác mệt mỏi, đầy hơi, khó tiêu, đau tức hạ sườn phải. Nếu xét nghiệm máu có thể thấy tăng men gan, tăng triglyceride. Nếu cai rượu trong giai đoạn này, bệnh thường khỏi nhanh và gan có thể phục hồi hoàn toàn.

Viêm gan do rượu: tế bào gan thoái hóa và hoại tử, gan thường có các tế bào căng phồng, có thâm nhiễm các bạch cầu đa nhân và tế bào lympho. Bệnh nhân có triệu chứng thường giống như người viêm gan do virus. Bệnh nhân thường chán ăn, buồn nôn và nôn, khó chịu, sụt cân, đau hạ sườn phải và vàng da. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng hoặc nhẹ, nhưng cũng có người suy tế bào gan nặng, có thể tử vong.

Khi khám thấy gan to, đau, lách to, vàng da, sao mạch (nổi các mạch máu đỏ hình con nhện ở ngực, bụng). Trường hợp nặng có thể có cổ trướng, phù, bệnh não do gan. Ở giai đoạn này nếu bệnh nhân tiếp tục uống rượu sẽ dẫn đến tổn thương gan mãn tiến triển và không hồi phục. Nếu cai rượu hoàn toàn, tổn thương gan có thể hồi phục nhưng lâu.

Xơ gan do rượu: rượu tiếp tục phá hủy các tế bào gan và lắng đọng chất tạo keo. Mô gan bình thường được thay thế dần bởi các mô xơ, dẫn đến suy giảm nhiều chức năng quan trọng của gan. Kích thước gan co lại, có hình dáng nổi hạt, cục và trở nên rắn cứng khi xơ gan giai đoạn cuối. Xơ gan diễn ra âm thầm trong thời gian dài nên bệnh nhân chỉ thấy mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon, đầy bụng, khó tiêu, sợ thức ăn nhiều dầu, đau hạ sườn. Khi bị xơ gan nặng, bệnh nhân có biểu hiện vàng da, lòng bàn tay đỏ ở ngoài rìa (lòng bàn tay son), sao mạch, lách to, teo cơ, cổ trướng, phù chân, dễ bị bầm. Ở nam giới có biểu hiện vú to, teo tinh hoàn, giảm lông. Ở phụ nữ kinh nguyệt không đều hoặc có thể nam tính hóa, vô sinh.

Vẫn có cơ hội

Ở những người bị bệnh gan do rượu, nếu kịp thời bỏ rượu vẫn có cơ hội hết bệnh hoặc cải thiện bệnh. Khi bệnh cần khám và điều trị theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Nghỉ ngơi nhiều, hạn chế hoạt động gắng sức.

Tránh tình trạng căng thẳng thần kinh kéo dài. Ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng, nhiều rau và trái cây tươi, hạn chế chất béo, tránh bị táo bón kéo dài. Nếu bệnh nhân có phù chân, báng bụng, hạn chế các thức ăn nhiều muối. Nếu tình trạng suy gan nặng, chế độ ăn phải hạn chế đạm theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Bệnh nhân xơ gan thường chết do các biến chứng như: bệnh não do gan, nhiễm trùng dịch báng, xuất huyết tiêu hóa, rối loạn đông máu, suy thận cấp, ung thư gan, suy kiệt nặng. Nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và kịp thời bỏ rượu vẫn có cơ hội cải thiện bệnh, theo dõi điều trị ngăn ngừa các biến chứng.

Phòng ngừa tác hại

Do mỗi người có độ nhạy cảm với rượu khác nhau nên biểu hiện khác nhau, nhưng tổn thương gan giống nhau nên không uống rượu bia là cách tốt nhất.

Để phòng bệnh nên thường xuyên tập thể dục để nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Nếu là người hoàn toàn khỏe mạnh và có thói quen uống rượu hay vì lý do gì phải uống rượu, nên cố gắng giảm uống rượu mạnh và chuyển sang uống rượu vang, bia với số lượng vừa phải. Trong khi uống rượu nên ăn thức ăn nhiều đạm, tránh uống khi đói, hạn chế uống nước, không dùng chung với các thức uống có gas vì sẽ làm tốc độ hấp thu cồn gia tăng.

Không nên uống thuốc giải rượu và các thuốc giảm đau như paracetamol, aspirin trước, trong hay sau khi uống rượu vì sẽ càng gây thêm độc cho gan. Những người thường xuyên uống rượu nên đi xét nghiệm định kỳ để theo dõi, phát hiện những tổn thương gan. Nhưng tốt nhất là cai rượu. Lưu ý những người bị viêm gan siêu vi B, C rượu có thể đẩy nhanh tiến trình suy gan, xơ hóa trong gan. Những người đã xơ gan vì bất cứ lý do gì nếu uống rượu sẽ làm gan suy nhanh hơn và nặng hơn.

LÊ THANH HÀ (Tuổi trẻ online)

Gan không chỉ là một bộ phận cực kỳ quan trọng đối với cơ thể con người mà nó còn đảm nhiệm một vai trò vô cùng to lớn. Bảo vệ gan chính là bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân mình. Ngay từ bây giờ hãy áp dụng các nguyên tắc sau để gan luôn khoẻ.
Hiểu thêm về gan…

Gan có nhiệm vụ chuyên thải lọc các loại độc tố trong cơ thể. Nó cũng hỗ trợ cho hoạt động của túi mật, ngoài ra trong gan còn chứa các tế bào có khả năng miễn dịch - chống lại những vi khuẩn xâm nhập gây hại cho cơ thể con người.

Theo các kết qủa nghiên cứu, ung thư là căn bệnh thường gặp nhất đối với gan và cũng là căn bệnh có nguy cơ tử vong rất cao. Ung thư gan phần lớn thường “viếng thăm” các quý ông (theo thống kê, ở Hàn Quốc tỉ lệ nam giới mắc ung thư gan nhiều gấp 7,9 lần so với nữ giới).

Nguyên nhân chính là do đàn ông thường xuyên sử dụng nhiều chất kích thích có chứa nồng độ cồn cao hơn so với nữ giới, thêm vào đó, đa số các đấng mày râu luôn “tuân thủ” theo một chế độ ăn uống kém khoa học và thiếu sự cân bằng dinh dưỡng.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh thêm rằng, các bệnh liên quan đến gan thường không “xuất đầu lộ diện” ngay lập tức, mà chỉ khi bệnh đã trở nên trầm trọng mới có những biểu hiện ra bên ngoài. Bởi vậy việc thường xuyên quan tâm, chăm sóc và kiểm tra định kỳ đối với gan là rất quan trọng.

… để phòng ngừa bệnh về gan
Ngay từ bây giờ hãy thực hiện theo các tiêu chí sau, để luôn gan luôn khoẻ và phòng ngừa được các loại bệnh nguy hiểm.

Thận trọng với các biện pháp hỗ trợ chức năng gan. Rất nhiều người có xu hướng dùng các loại thuốc hay thậm chí là tăng cường các chất dinh dưỡng với hy vọng sẽ làm bổ gan. Tuy nhiên, trong một số trường hợp không hiểu biết có thể gây phản lại tác dụng như mong muốn, đặc biệt là đang mắc các bệnh về gan.

Tránh xa các chất kích thích có chứa nồng độ cồn cao, nhất là rượu. Rượu chính là “kẻ thù” làm suy hại các chức năng gan.
Nên “lập trình” một chế độ ăn uống khoa học, đặc biệt lưu ý đến việc lựa chọn thực phẩm.
Cần tuân theo một chế độ ăn uống cân bằng và tránh sự dư thừa các chất đạm.
Không nên “nạp” vào cơ thể quá nhiều thức ăn chế biến theo kiểu chiên rán.
Ăn nhiều ngũ cốc và rau xanh có chứa chất xơ để dễ dàng loại bỏ các độc tố.
Tránh ăn nhiều đồ ngọt, có chứa chất béo.

Không nên vì lý do này hay lý do khác nhịn ăn. Việc nhịn ăn sẽ gây ra thiếu chất đặc biệt là chất khoáng và các acid amin cần thiết cho cơ thể con người.

Không áp dụng bất cứ biện pháp nào để giảm cân nhanh chóng. Nếu như trong một tuần bạn có thể giảm được vài kg, đó là mối nguy hại lớn đối với gan (có thể gây suy gan).

Luyện tập đều đặn.
Khổng Hà
Theo KoreanTimes
Thông thường khi gan mắc bệnh, nó không có những triệu chứng gì rõ ràng. Như vậy có nghĩa là, các bệnh về gan nếu không quá nghiêm trọng thì thường không có dấu hiệu gì đặc biệt.

Chúng ta cần biết rằng, bản thân gan không có thần kinh gây đau đớn, mà chỉ có ở lớp biểu bì. Khi bên trong gan mắc bệnh, nếu không tiếp xúc với lớp biểu bì thì chúng ta sẽ không cảm thấy đau đớn.
Hơn nữa, gan là cơ quan có tính chịu đựng, chỉ cần còn 30% khả năng làm việc thì cơ thể của chúng ta khó cảm nhận được sự đau đớn, chỉ khi gan bị mắc bệnh, cơ năng của nó có biểu hiện bị suy thoái thì chúng ta mới nhận thấy được triệu chứng đó.

Gan còn là một cơ quan nội tạng cứng và giữa gan với các cơ quan khác trong cơ thể có một mối quan hệ chặt chẽ, cho nên gan thường phải chịu những ảnh hưởng liên đới của các bộ phận khác, ví dụ cơ thể bị bệnh truyền nhiễm, bệnh đái tháo đường hoặc khi mang thai thì đều có thể ảnh hưởng gián tiếp đến cơ năng của gan. Hiểu được tầm quan trọng của gan, bạn phải đặc biệt chú ý chăm sóc và bảo vệ gan thật tốt.

Dưới đây là 9 bí quyết giúp bạn giữ gan được khỏe mạnh

Hãy để cơ thể bạn có thời gian nghỉ ngơi

Ăn cơm xong có thời gian nghỉ ngơi là cách tốt nhất giúp gan khỏe mạnh, sau khi ăn nếu nghỉ ngơi yên tĩnh 30 phút sẽ giúp cơ thể hấp thụ được phần lớn các chất dinh dưỡng. Những người có chức năng gan không tốt nên đi ngủ trước 23 giờ và không nên thức quá 1 giờ đêm. Một số người vì công việc mà luôn phải làm việc vào ban đêm, những người này có khả năng mắc bệnh gan khá cao, ngoài ra hệ thống miễn dịch cũng sẽ bị giảm sút.

Bạn cần chú ý giữ cân bằng dinh dưỡng

Bạn hãy rèn luyện cho mình một thói quen ăn uống đúng giờ giấc và định lượng. Nên ăn nhiều rau xanh và các loại hoa quả để đại tiện được dễ dàng, giúp cho gan giảm bớt gánh nặng. Nếu bị bệnh gan bạn cần ăn uống nhiều chất bổ dưỡng cho gan đó là lượng protein cao, lượng mỡ thấp, lượng đường đầy đủ, vitamin phong phú để cung cấp thêm protein và vitamin cho cơ thể.

Hãy bỏ thuốc lá

Hút thuốc lá rất có hại cho cơ thể, đặc biệt là có hại cho gan. Sau khi hút thuốc, nồng độ nicotin trong máu sẽ tăng cao, do đó gan sẽ phải làm việc nhiều hơn để giải độc cho các chất nicotin này.

Cần phải cai rượu

Đối với các lá gan bình thường, thì uống một chút rượu không những không có hại mà còn có lợi, nhưng nếu uống quá nhiều rượu thì sẽ rất có hại. Còn những người đã bị bệnh gan thì uống rượu không khác gì hành động tự sát, một khi gan đã có bệnh thì không nên uống một chút rượu nào cả.

Không nên uống thuốc bừa bãi

Đối với một số thuốc mà tác dụng phụ của nó ảnh hưởng đến gan, nếu mắc bệnh gan thì cơ thể bị sốt, ngoài ra toàn thân bị phát ban, người bị phù, ngứa ngáy, bên cạnh đó người bệnh sẽ có cảm giác chán ăn, khó chịu buồn nôn, trướng bụng. Người bị bệnh gan cần đặc biệt chú ý khi uống các loại thuốc tránh thai và thuốc cảm cúm.

Không nên tức giận

“Nộ tắc thương can”, câu đó có nghĩa là khi tức giận sẽ rất có hại cho gan. Theo các nhà miễn dịch học, thì khi tức giận hệ miễn dịch của cơ thể sẽ hoạt động kém đi và làm tổn thương đến gan. Do vậy những người bị mắc bệnh gan nhất thiết không nên nóng giận nhiều.

Cần kiêng khem trong ăn uống

Khi lá gan của bạn đã có bệnh, nên tránh ăn những thực phẩm không còn tươi, bao gồm các loại thực phẩm lên men, các loại thực phẩm có chất bảo quản, phẩm màu và các phụ gia, các loại thức ăn hun khói... các gia vị có chất kích thích, một số loại hoa quả như mãng cầu, vải, long nhãn... cũng không nên ăn nhiều.

Cần chủ động phòng chống viêm gan

Tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan là một trong những cách tích cực nhất để phòng bệnh gan. Hiện nay tại các cơ sở y tế phòng dịch của huyện, thị xã, thành phố đều được cung cấp đầy đủ các vaccin phòng bệnh viêm gan, chúng ta nên chủ động đến để được tiêm phòng đầy đủ. Một điều quan trọng khác là cần chú ý tránh các nguồn lây nhiễm ví dụ như cần tránh hoặc hết sức cẩn thận khi truyền máu, tiêm, châm cứu, xăm, dùng chung bàn chải, dùng chung dao cạo râu... cần sử dụng bơm tiêm một lần, dùng kim châm cứu riêng...

Cần duy trì đều đặn kiểm tra gan định kỳ

Nếu bình thường thì 6 tháng - 1 năm bạn nên đi làm các xét nghiệm máu để kiểm tra các chỉ số gan. Còn nếu bạn không may mắc bệnh gan thì cần phải tuyệt đối tuân thủ lời dặn của bác sĩ, kiên trì uống thuốc, không nên vì bệnh tình tiến triển chậm mà sốt ruột đổi bác sĩ, đổi thầy thuốc điều trị, điều đó chỉ càng khiến việc điều trị bệnh gan của bạn khó khăn, gian nan hơn.

Theo Sức khỏe & Đời sống
Tẩm mật gấu vào một miếng bông gòn rồi đốt, ngọn lửa tắt ngay (như khi lửa bị tạt nước vào), vì mật gấu đốt không cháy được. Các loại mật động vật khác đều cháy hết, lại có mùi tanh thối rất khó chịu.

Túi mật gấu khô có hình trứng dẹt, thường dài 10-20 cm, rộng 5-10 cm và dày 5-15 mm, phần trên (miệng) thuôn nhỏ, hẹp và rỗng, phần dưới (đáy) phình to, chứa nhiều chất mật khô. Bề mặt túi nhẵn sáng, màu nâu xám hoặc nâu đen, có những nếp gấp. Khi soi túi ra ánh sáng thấy phần trên trong suốt, phần giữa và đáy có màu nâu sẫm.

 

Nếu cắt túi mật ra sẽ thấy các “đởm nhân” (chất mật khô) dạng cục khối, dạng hạt hoặc dạng cao cứng, to nhỏ không đều, màu sắc thẫm nhạt khác nhau (vàng tươi, vàng xanh, nâu đen hoặc xanh đen) óng ánh, mùi thơm dịu. Loại túi mật to, trong suốt, chứa nhiều đởm nhân có màu vàng kim loại óng ánh, vị đắng có hậu ngọt là tốt nhất.

 

Mật gấu giả thường là túi mật của lợn, trâu, bò, ngựa, dê hoặc được tạo ra từ bàng quang hay ruột động vật buộc lại, bên trong chứa cao thực vật. Nó có hình elip dẹt, cổ túi thường được buộc bằng dây các loại, phần thân và đáy có những chỗ lồi lõm to nhỏ không đều nhau, mặt ngoài trơn nhẵn màu đen, có rất ít các nếp gấp, có chất màu đen thẩm thấu ra.

 

Chất mật bên trong màu đen, bóp mềm và dính tay, mùi khó chịu, khi cho vào miệng nhai thì dính răng, vị ngọt trước đắng sau, có mùi khó chịu.

 
 
Phân biệt bằng cách thử
 

Rắc nhiều bụi nhẹ phủ kín trên mặt của bát nước đầy, sau đó nhỏ một giọt mật gấu vào bát nước. Nếu là thật, lớp bụi trên mặt nước dạt vào thành bát, để lộ khoảng trống vòng tròn nước trong mà tâm điểm là nơi giọt mật vừa nhỏ vào. Mật của các động vật khác không xóa được bụi trên mặt nước.

 

Lấy một ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc nước, mật thật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi màu vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan tỏa ra.

 

Nhỏ một giọt mật gấu vào ly nước đầy, sẽ thấy giọt mật tự xoay rất nhanh và chìm xuống đáy ly, vạch ra một đường sáng như sợi chỉ và khá lâu mới tan đường chỉ này. Các loại mật động vật khác tuy cũng chìm xuống đáy ly nước nhưng tốc độ chậm và không có vệt sáng như mật gấu.

 

Lấy một chút mật gấu to bằng hạt gạo nếp, bỏ vào bát nước trong, nếu thấy có một đường kéo từ mặt bát nước xuống đáy bát, thẳng như sợi chỉ, lâu mãi chưa tan thì đấy là mật gấu thật và tốt.

 
Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy một ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.
 

Nếm mật gấu thật lúc đầu thấy đắng, sau chuyển sang vị ngọt mát, có cảm giác thấm sâu và dính vào lưỡi, mùi thơm nhẹ, ngậm lâu sẽ tan hết, không tanh. Mật các động vật khác chỉ đắng mà không dính lưỡi.

 

Vì gấu thích ăn mật ong nên người ta thử mật gấu bằng cách: Lấy một chậu nước, một đầu đường kính chậu đốt ngọn nến bằng sáp ong, đầu kia nhỏ một giọt mật gấu sẽ thấy mật gấu chuyển động trong nước về phía sáp ong. Các loại mật động vật khác không có hiện tượng này.

 
Nhỏ một giọt mật gấu vào khối máu đông (như tiết canh) thì khối máu này sẽ tan ra. Các mật động vật khác không như vậy.
 

Mật gấu thật khi quan sát dưới đèn tử ngoại sẽ thấy ánh huỳnh quang màu vàng trắng. Mật gấu giả sẽ thấy màu vàng tươi, vàng sám, vàng nhợt hoặc vàng sẫm.

 

Trong ly nước ngọt có mật gấu thật, nếu nhỏ vài giọt axit sulfuric, sẽ thấy ly nước có màu đỏ hồng tươi (thời gian sau sẽ chuyển sang màu xanh lam rồi xanh lục).

 
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Công dụng của mật gấu Có tác dụng thanh huyết, sát khuẩn, làm tan sỏi mật. Uống chữa các chứng bệnh thấp nhiệt, hoàng đản (vàng da), hồi hộp, sợ hãi, co dúm, lỵ lâu ngày, đau mắt đỏ kéo mạng, đau răng, trĩ dò, mụn nhọt, sỏi mật.
Tên khoa học: Selenarctos thibetanus G.Cuvier - Gấu ngựa, có khoang trắng hình chữ V ở ngực.
rsus arctos lisiotus Gray: Gấu chó, gấu nâu,đen, đều thuộc họ gấu (Ursidae).
Tên khác: Hùng (TQ) – Ours (Pháp) – Bear (Anh).

Bộ phận dùng: Cả cái mật đã chế biến khô của nhiều loài gấu (Fel Ursi) còn gọi là Hùng đởm (TQ), Bile d’ours (Pháp) – Bear gall (Anh). Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1997).

Mô tả con vật: Gấu là một loài động vật có vú khá lớn, loài gấu trắng Bắc Cực, gấu nâu vùng ôn đới, nặng trên 300kg, đứng cao gần 2m, trông dữ tợn, đầu to, tai bé,mũi hơi nhọn, công thức răng của gấu giống chó: 42 răng, bốn chân ngắn, 2 chân sau dài và phát triển hơn 2 chân trước, có thể đi, đứng, chạy, thường thì 4 chân, có bộ móng vuốt phát triển, trèo leo lên cây rất giỏi, bơi lội suối, ăn tạp, ăn cá, lá, hoa quả,rất thích đồ ngọt: mậtong, múi và sơ mít.

Đuôi ngắn, lông dày, đen, nâu đen (gấu Bắc cực lông trắng), Gấu trúc (Panda) thuộc loại rất quý hiếm.
Gấu sống hoang dại các rừng từ ôn đới, nhiệt đới (gấu trắng vùng tuyết), châu Âu, Á, Mỹ ...
Ngày nay đã được nuôi ở vườn thú, rạp xiếc, mới đây còn được nuôi để lấy mật.
Nuôi gấu rất dễ, gần như nuôi lợn, nếu thêm đường, mật...gấu ăn rất khoẻ.

Thu hoạch chế biến: Thu hoạch mật gấu quanh năm, về mùa đông thì lượng mật nhiều nhất, mùa xuân thì chất lượng tốt nhất (có lần ở một con gấu nặng 93kg lấy được 88,5kg mật tươi).

Trước khikia săn bắn, giết gấu, mổ lấy mật, buộc chặt ống dẫn mật lại treo nơi thoáng gió, khô mát hoặc làm khô trong bình hút ẩm.

Thủy phần dưới 15p100.

Ngày nay, để bảo vệ động vật khỏi bị diệt chủng mỗi khi lấy mâjt phải giết gấu, hơn nữa để bảo đảm chất lượng không bị giả mạo, nhất là mật gấu rất đắt tiền và khó kiểm nghiệm, ngườita còn nuôi gấu, tiến hành phẫu thuật khi con gấu đang sống, rối cắm ống dẫn lưu vào túi mật để lấy mật chủ động số lượng và định kỳ.

Trung bình 1 con gấu 1 năm có thể rút được 1-2 kg mật (tương đương 15-30 con gấu).
Thành phần hoá học: Trong mật gấu, sơ bộ có các chất.
Muối kim loại của các acid cholic.
Cholesterol.
Sắc tố mật như billirubin.

Các acid cholic trong mật gấu có acid cholic, acid chenodesoxycholic, acid ursodexycholic. Riêng acid ursodesoxycholic được coi là thành phần đặc trưng của mật gấu (độ chảy 202oC, độ quay cực +57.07).

Công dụng: Theo đông y, Mật gấu vị đắng, tính lạnh. Vào 3 kinh tâm, can, vy.
Có tác dụng thanh huyết, sát khuẩn, làm tan sỏi mật.

Uống chữa các chứng bệnh thấp nhiệt, hoàng đản (vàng da), hồi hộp, sợ hãi, co dúm, lỵ lâu ngày, đau mắt đỏ kéo mạng, đau răng, trĩ dò, mụn nhọt, sỏi mật.

Ngoài ra còn dùng làm thuốc giúp tiêu hoá, giảm đau, trấn kinh, chữa trẻ em kinh phong, người khibị trấn thương.
Dùng ngoài ra: điểm vào mắt, dán ngoài chỗ bị trĩ dò.
Acid ursodesoxycholic chống co thắt, chữa 1 số bệnh gan, mật, làm tan sỏi mật, không gây ỉa chảy, không làm tăng transaminase.
Liều dùng: 0,5 – 2g (mật gấu).
Lưu ý: Không thuộc chứng thực nhiệt không dùng.
Xương gấu: cũng được dùng để nấu cao xương gấu,làm thuốc bồi dưỡng, chữa tê thấp, đau mỏi gân xương.
Phụ chú: Một số cách thử mật gấu:

Cảm quan: Nếm lúc đầu thấy đắng, sau thấy ngọt mát và dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết trong miệng. Mật những động vật khác không dính lưỡi, múi tình, nếm đắng mà không mát, nhìn không bóng, bẻ không ròn.

Lấy vài hạt, mảnh, mật gấu thả trên mặt nước sẽ thấy hạt mật gấu quay tròn rồi chìm xuống đáy. Có sợi màu vàng buông thẳng xuống đáy dưới cốc nước không toả ra - Phản ứng mầu, theo phương pháp hoá học: Các phản ứng Pettenkofer, phản ứng Lieberman – Surchard, chỉ có một tính chất định tính, không định lượng.

Nói chung những cách thử trên chỉ có tính chất tham khảo, mua trực tiếp là biện pháp bảo đảm nhất.
Bảo quản: Để nơi khô mát.
Viêm gan B là bệnh gan nguy hiểm và thường gặp do siêu vi khuẩn B gây ra. Đáng chú ý Việt Nam chính là một trong những nước có tỉ lệ mắc căn bệnh này cao nhất trên thế giới với khoảng 10 triệu ca bị nhiễm.
4 người mắc, 1 người thiệt mạng

Gan là bộ phận quan trọng với chức năng chính là lọc và thải độc trong cơ thể. Do đó có nhiều nguyên nhân gây ra viêm gan như ngộ độc hóa chất, do bệnh bẩm sinh, do tác dụng phụ của thuốc và đặc biệt là do nhiễm virus. Có nhiều loại virus gây viêm gan, được ký hiệu bằng chữ: A,B,C,D,E…, trong đó viêm gan B là căn bệnh nguy hiểm và hay gặp nhất. Đây mặc dù là căn bệnh lây lan lặng lẽ, tấn công gan một cách âm thầm nhưng lại có tốc độ lây lan nhanh vào bậc nhất và để lại hậu quả nặng nề như xơ gan, ung thư gan.

 Theo thống kê thì cứ 4 người bị viêm gan B sẽ có 1 người bị thiệt mạng do xơ gan và ung thư gan. Khi bệnh nhân cảm thấy cần phải đi khám do có những dấu hiệu không bình thường đối với sức khỏe thì bệnh đã vào giai đoạn cuối, thậm chí có nhiều trường hợp tử vong vì ung thư gan mà vẫn không biết thủ phạm là do viêm gan B.

Cách phòng bệnh tốt nhất là tiêm chủng.

Kiểm tra theo định kỳ

Quá trình mắc bệnh viêm gan B được chia làm 2 giai đoạn: Viêm gan cấp tính và viêm gan mạn tính. Giai đoạn viêm gan cấp tính có thời gian ủ bệnh vào khoảng từ 5-6 tháng. Một số bệnh nhân không có cảm giác gì nhưng đa số còn lại bị vàng da, mệt mỏi, chán ăn…

Giai đoạn viêm gan mạn tính có biểu hiện lâm sàng như gan to, bàn tay ửng đỏ, khi bị biến chứng xơ gan thì bị ứ nước trong bụng, loãng máu, chảy máu dạ dày, ở đàn ông, vú phát triển lớn như vú phụ nữ, tinh hoàn bị teo nhỏ do gan yếu làm thay đổi sự cân bằng của hormone giới tính.

Cơ thể người lớn có thể loại trừ viêm gan siêu vi B một cách dễ dàng nhưng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đều không thể tự loại trừ được và trở thành bệnh nhân viêm gan B mãn tính.

Bệnh viêm gan B có thể được phát hiện sớm nhờ một số các xét nghiệm đơn giản, vì vậy khi cơ thể có một số những dấu hiệu như đã nói ở trên thì cần phải đi khám và làm xét nghiệm máu ngay để được điều trị sớm. Tuy nhiên các triệu chứng trên nhiều khi không xuất hiện, do đó cách tốt nhất để phát hiện ra viêm gan siêu vi B là khám sức khỏe và xét nghiệm máu định kỳ. Việc phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp ta gia tăng hy vọng biến chứng xơ gan và ung thư gan.

Tiêm chủng đạt hiệu quả phòng bệnh 95% 

Với tính chất đặc thù và nguy hiểm, viêm gan B từ lâu là sự đe dọa cho nhân loại. Trong vòng 10 năm qua, các nhà khoa học đã không ngừng tìm kiếm và phát triển các loại thuốc đặc trị căn bệnh này. Đây đều là những loại thuốc làm giảm mức độ viêm gan và hạn chế ung thư gan, xơ gan bằng cách khống chế và chặn đứng sự sinh sản và phát triển của siêu vi.

Tính đến nay có rất nhiều loại thuốc đã được chấp nhận, nhưng kết quả điều trị của chúng chưa hoàn hảo vì không thể điều trị dứt hẳn virus, nên tốt nhất là khi sử dụng phải có sự chỉ dẫn của bác sĩ. May mắn là đa số người mắc viêm gan B mạn tính vẫn sống khỏe mạnh suốt đời mà không cần dùng thuốc, tuy vậy không có cách nào để biết được rằng liệu có biến chứng nào sẽ xảy ra. Vì vậy tất cả các bệnh nhân viêm gan B mạn tính nên đi khám bệnh định kỳ cho dù có được điều trị thuốc hay không.

Cách tốt nhất để phòng chống viêm gan B chính là tiêm chủng. Tiêm chủng phòng ngừa viêm gan B có thể đạt được hiệu quả trên 95% đối với trẻ em. Nên cho các cháu tiêm phòng càng sớm càng tốt và nhất thiết phải tiêm đủ 3 mũi, đối với người lớn thì cần phải làm xét nghiệm máu trước khi chủng ngừa. Trường hợp quên tiêm mũi thứ 3 trong thời gian 3 năm sẽ không phải tiêm lại từ đầu.

Kim Chi
Mật gấu ngâm mật ong chữa được bệnh gì? Một lít mật pha với mấy cc mật gấu? Lượng dùng mỗi ngày đối với từng lứa tuổi? Mật gấu ngâm rượu chữa được bệnh gì? (quang dung)
Trả lời của phòng mạch online:
Mật gấu còn gọi là hùng đởm, tên khoa học là Felursi .
Thành phần hóa học: Mật gấu có muối kim loại  acid cholic, cholesterol và sắc tố mật (bilirubin).

Tác dụng: Theo Đông y,  mật gấu vị đắng, tính hàn, vào 3 kinh Tâm, Can và Vị có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, ác thương, chữa đau răng, viêm mắt, hoàng đản, lỵ, hồi hộp, chân tay co quắp, đau dạ dày, giúp tiêu hóa, làm tan sỏi mật, mau hồi phục nếu gãy xương.

Đặc biệt mật gấu ngựa có tác dụng chữa bệnh xơ gan, do có chứa  acid ursodeoxycholic (UDC) chiếm 20% trọng lượng của mật . Đây là điểm khác với gấu chó, chúng chỉ có acid chenodeoxychgolic (CDC) mà thôi.

Theo các kết quả nghiên cứu gần đây nhất, mật gấu ngựa còn có tác dụng góp phần điều trị ung thư do nó làm cho các thuốc chữa ung thư đi vào tiêu diệt tế bào ung thư dễ dàng hơn .

Thông thường nếu con gấu ngựa khỏe mạnh, không bệnh tật, sau khi lấy mật có thể pha vào nước sôi, rượu hay mật ong uống trực tiếp rất tốt. Một lít mật ong pha 10 ml mật gấu ngựa (lấy 6 tháng một lần mới hiệu quả). Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 10 ml. Tác dụng đã nói với bạn ở phần trên rồi.

Mật gấu ngâm rượu làm thuốc xoa bóp , tan máu bầm rất tốt. Nếu bạn bị đụng dập có nguy cơ sẽ tí m bầm vùng mặt, tay chân, bạn thoa mật gấu ngâm rượu vừa giảm đau vừa không bị bầm chỗ đó. Riêng tác dụng làm tan máu bầm thì dùng mật gấu chó cũng được. Còn uống  thì phải dùng mật gấu ngựa, cẩn thận thì nên kiểm tra chức năng thận vì có trường hợp gây viêm thận cấp sau khi uống.

Trẻ em chỉ nên thoa chữa vết thương, không nên dùng đường uống ( dù trong sách cổ có nói trị đau mắt nhưng hiện ít người dùng).
BS LÊ THUÝ TƯƠI
Các bác sĩ Anh, khi xem xét hồ sơ của gần 300.000 ca ung thư, đã phát hiện việc thừa cân làm tăng nguy cơ phát triển của 20 loại bệnh ung thư khác nhau.
  
Nghiên cứu, do Andrew Renehan từ Đại học Manchester dẫn đầu, công bố trên tạp chí The Lancet số mới nhất.

Cùng lúc đó ở Boston, Mỹ, tại cuộc họp thường niên đang diễn ra của Hiệp hội Mỹ về các tiến bộ khoa học, chuyên gia dinh dưỡng Walter Willett từ Trường Y tế cộng đồng Harvard đã dự báo rằng không lâu nữa, béo phì sẽ qua mặt việc hút thuốc lá để trở thành nguyên nhân gây ung thư hàng đầu ở các quốc gia đã phát triển.

Willett đã viện dẫn nhiều nghiên cứu để chỉ ra rằng, có rất ít nghi ngờ về mối liên quan giữa béo phì và ung thư.
"Đến 20% các ca ung thư có liên quan với béo phì", Willet nói, so với nguyên nhân liên quan đến thuốc lá là 30%.

Trong một nghiên cứu khác từ năm 2006 của Đại học Southern California, các chuyên gia đã tìm thấy những người bị thừa cân hoặc béo ịch ở độ tuổi 21 thì cũng có tỷ lệ tử vong cao nhất trong tất cả các nhóm tuổi được nghiên cứu.

Một câu chuyện đùa từng nói rằng mẹo để bạn sống đến 100 tuổi là hãy sống đến năm 99. Mẹo để trở nên béo khoẻ ở độ tuổi 80 là một cân nặng khoẻ mạnh bình thường trong suốt cuộc đời bạn, nếu không bạn sẽ không bao giờ thọ đến 80.

Tất nhiên, không có ai đảm bảo điều đó cho bạn, mà chúng chỉ có nghĩa là làm giảm các nguy cơ. Tuy nhiên, bạn sẽ rất khó để tìm thấy những người thừa cân sống đến 90 hoặc 100 tuổi.


Theo VnExpress
Anh Hưng (45 tuổi, Hà Tây) choáng váng khi biết rằng với khối u lớn trong gan, anh chỉ sống được khoảng 1 năm nữa. Lẽ ra anh đã có trên 80% khả năng chữa khỏi nếu đến bệnh viện khi u còn nhỏ.
Anh Hưng bị viêm gan B, lại hay uống rượu nên chức năng gan suy yếu. Tuy nhiên, anh không hề nghĩ đến việc mình có thể bị ung thư. Đến khi thấy đau tức ngày càng tăng ở phần hạ sườn phải, sụt cân, chán ăn, anh mới đến bệnh viện khám và được biết mình bị ung thư gan.
Kết quả khám cho thấy khối u đã quá lớn, đường kính gần 10 cm; gan cũng bị xơ khá nặng. Bác sĩ cho biết, anh Hưng chỉ sống thêm được khoảng 1 năm. Nếu có các biện pháp hỗ trợ như làm tắc động mạch nuôi khối u, tiêm cồn, xạ trị... thì có thể kéo dài thêm chút ít.

Tiến sĩ Phạm Duy Hiển, Phó giám đốc Bệnh viện K, cho biết bệnh ung thư gan nếu được phát hiện sớm thì hiệu quả điều trị rất cao. Nếu được phẫu thuật khi kích thước u dưới 3 cm, gan chỉ mới bị xơ thì khả năng sống thêm sau 5 năm lên đến 80-90%.

Tỷ lệ trên sẽ giảm còn 60% nếu u 3-6 cm, và chỉ còn 10-15% nếu u lớn hơn 6 cm. Trường hợp u 10 cm thì không chữa khỏi được, nhất là khi bệnh nhân đã bị vàng da, vàng mắt. Việc điều trị chỉ để kéo dài sự sống và giảm đau.

Theo tiến sĩ Hiển, tỷ lệ bệnh nhân ung thư gan được phát hiện sớm mặc dù đã tăng nhiều so với trước nhưng vẫn chỉ đạt mức 20-30%. Phần lớn chỉ phát hiện bệnh khi u đã lớn.

Mỗi năm, Bệnh viện K điều trị cho khoảng 100 ca ung thư gan, nhưng chỉ 15-20% trong số đó được chữa khỏi; số còn lại chỉ là giúp họ đỡ mệt mỏi, đau đớn (ở giai đoạn cuối, ung thư gan thuộc dạng gây đau đớn nhất).
Trong bệnh ung thư, sau điều trị 5 năm, nếu bệnh nhân vẫn sống và khối u không phát triển lại thì được coi là khỏi bệnh, bởi sau thời gian đó, coi như bệnh không còn tái phát. Nếu ung thư lại xuất hiện thì đó là bệnh mới.


Nhiều bệnh nhân được phát hiện bệnh và phẫu thuật sớm nhưng bệnh vẫn tái phát do không tái khám theo hẹn để được điều trị bổ sung bằng hóa chất và tia xạ, hoặc trở lại bệnh viện quá trễ. Ở bệnh viện K, có đến 30% bệnh nhân không hề quay lại tái khám và sau mổ, số còn lại cũng rất hay đến muộn. Trong khi đó, việc hóa trị chỉ có tác dụng nếu được áp dụng sau mổ không quá 4 tuần.

Viêm gan B là thủ phạm chính gây ung thư gan

Ung thư gan hiện đứng thứ ba trong số các bệnh ung thư phổ biến nhất ở Việt Nam (sau phổi và dạ dày). Ở nam giới, bệnh đứng hàng thứ hai do thói quen uống rượu.

Theo ông Phạm Duy Hiển, Việt Nam hội đủ yếu tố gây ung thư gan của các nước giàu (uống rượu) lẫn nước nghèo (viêm gan virus). Khoảng 60-80% bệnh nhân có tiền sử viêm gan B. Virus viêm gan làm cơ quan này suy yếu, xơ hóa và dẫn đến hình thành các tổ chức tế bào ác tính. Do có đến 20% dân số nhiễm viêm gan B nên "nguồn" phát sinh ung thư gan vẫn còn rất lớn.

Rượu đứng hàng thứ hai trong các thủ phạm gây ung thư gan ở Việt Nam, chủ yếu gặp ở nam giới. Chỉ có khoảng 10% trường hợp bị ung thư trong khi gan vẫn lành mạnh, thường là do gene hoặc các yếu tố nội sinh. Tóm lại, theo ông Hiển, phần lớn các ca ung thư gan lẽ ra có thể phòng tránh.

Thấy triệu chứng thì đã muộn

Cũng như nhiều dạng ung thư khác, người mắc bệnh này thường không có triệu chứng gì rõ rệt. Đến khi các biểu hiện lâm sàng xuất hiện thì bệnh đã ở giai đoạn muộn. Bệnh nhân thấy đau tức ở vùng hạ sườn phải do khối u lớn, bị chèn ép; chán ăn, sụt cân, buồn nôn và nôn. Khi đã vàng da, vàng mắt thì tình trạng bệnh đã nghiêm trọng.

Để có thể phát hiện bệnh sớm, tiến sĩ Hiển khuyên mọi người đi xét nghiệm viêm gan B. Nếu kết quả âm tính, cần tiêm văcxin. Nếu dương tính, cần xét nghiệm để biết virus đang "nằm im" hay hoạt động, từ đó điều trị cho ổn định. Những người 45 tuổi trở lên nếu bị viêm gan B nên đi khám tầm soát ung thư gan (siêu âm, xét nghiệm, khám lâm sàng) mỗi năm 2 lần. Những người hay uống rượu cũng nên đi kiểm tra gan thường xuyên.

Ở những người chức năng gan đã giảm, trong ăn uống nên hạn chế chất béo và đạm để không bắt gan làm việc quá nhiều; bổ sung các thực phẩm giàu vitamin, gluco. Cần hoạt động thể lực vừa phải và bỏ hẳn rượu, thuốc lá.

Theo VnExpress.

* Tên bệnh nhân đã được thay đổi.
   Mật gấu vừa có tác dụng chữa bệnh xơ gan, vừa gây viêm gan -đó là nhận định của Phó giáo sư Đỗ Khắc Hiếu, Trưởng bộ môn công nghệ tế bào động vật, Viện Công nghệ sinh học. Ông là người được cấp bằng sáng chế độc quyền về phương pháp lấy mật không cần giết gấu vào năm 1983.
- Thưa ông, tác dụng của mật gấu như thế nào?

- Mật gấu chữa được xơ gan là mật gấu ngựa. Trong mật gấu ngựa chứa axit ursodeoxycholic (UDC). Thông thường, 1g mật gấu ngựa khô có 200mg UDC. Rất nhiều cơ quan khoa học hàng đầu thế giới đã có những nghiên cứu tỉ mỉ và chứng minh UDC có tác dụng chữa xơ gan. Do đó uống mật gấu ngựa rất tốt.

Tuy nhiên, khác với gấu ngựa, mật gấu chó gần như không có UDC mà chỉ có axit chenodeoxycholic (CDC). Ngược lại với UDC, CDC không có tác dụng chữa xơ gan mà lại gây viêm gan, và sau đó phần lớn người bệnh sẽ bị xơ gan. Vì thế, uống mật gấu chó không những không có tác dụng chữa bệnh mà còn gây thêm bệnh. Tất nhiên nếu dùng mật gấu chó để bôi ngoài da cũng có tác dụng làm tan vết tụ máu.

- Thưa ông, vì sao axit CDC lại gây viêm gan?

- Khi người bệnh uống mật gấu chó, vi khuẩn trong đường ruột sẽ ăn CDC và sản sinh ra axit lithocholic - tác nhân gây viêm gan. Tôi cũng lưu ý, CDC không chỉ có trong mật gấu chó mà còn có ở mật vịt, ngan, ngỗng.

Rất nhiều người chỉ biết uống mật vịt để chữa sỏi thận, sỏi gan mà không biết rằng nó còn gây viêm gan. Tôi đã gặp nhiều người sau khi uống mật vịt khỏi sỏi gan, nhưng lại chết vì viêm gan.

Mặc dù chúng ta chưa có nghiên cứu về việc uống mật gấu chó sẽ bị viêm gan nhưng vấn đề này đã được các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm Hoàng gia Anh nghiên cứu và khẳng định là đúng.

- Nhưng việc nuôi gấu lấy mật hiện rất phổ biến tại nước ta, làm thế nào phân biệt mật gấu ngựa với mật gấu chó?

- Điều đó phải phân tích mật mới biết được. Còn nhìn bề ngoài gấu chó chỉ nặng khoảng 50-70kg, còn gấu ngựa là 180-200kg. Ngoài ra, cả hai loài này đều có lông màu đen, có một khoang trắng ở cổ. Tuy nhiên, khoang trắng ở cổ gấu chó tròn, sít vào cổ, còn khoang trắng ở cổ gấu ngựa trễ xuống tận ức.

Để nhận biết mật tốt xấu nói chung cũng có thể phân biệt bằng mắt thường. Mật gấu tốt nhất có màu vàng, trung bình thì màu đồng, màu ánh xanh như thép. Kém nhất là mật màu xanh. Hiện nay mật gấu trên thị trường chủ yếu là mật màu xanh.

- Nghĩa là ngay cả với mật gấu ngựa cũng rất ít có tác dụng chữa bệnh?

- Mật gấu trên thị trường chỉ còn khoảng 1/3 tác dụng chữa bệnh. Vừa qua, chúng tôi đã phân tích 5 mẫu mật gấu do Chi cục Kiểm lâm Hà Nội thu giữ được. Kết quả cho thấy, tất cả các mẫu đều có hàm lượng hoạt chất chữa bệnh thấp hơn so với tiêu chuẩn. Đó là do cách lấy mật ở các hộ nuôi không đúng.

Thông thường nếu con gấu ngựa khỏe mạnh, không bệnh tật, sau khi lấy mật có thể pha vào nước sôi, rượu hay mật ong uống trực tiếp rất tốt. Dĩ nhiên đó phải là những con gấu ngựa 5-6 tháng mới lấy mật một lần.

Đằng này người ta lấy mật có khi 2 tuần/lần nên mật không chất lượng, làm giảm tuổi thọ của gấu. Rồi thì họ lấy mật mà không tiệt trùng kim tiêm, rửa chỗ lấy mật bằng rượu Lúa Mới. Điều đó rất dễ làm gấu nhiễm trùng dẫn tới apxe. Nếu gấu bị apxe thì mật sẽ đục, có cặn trắng lắng bên dưới. Chúng tôi đã phân tích nhiều mẫu như vậy và thấy cặn trắng chỉ là mủ. Mật gấu chứa mủ sẽ gây bệnh cho người dùng.

Mặt khác, một vài bệnh khi gấu mắc phải cũng sẽ làm trương túi mật. Thường túi mật của gấu chứa 180-200ml mật, khi trương lên chứa đến 300ml nhưng thực chất chỉ là nước chứ không phải mật.

Ngoài ra, nếu lấy vào mùa hè thì mật loãng, kém chất lượng hơn so với lấy vào mùa đông, mùa xuân vì hai mùa này gấu ít uống nước, mật sẽ đặc hơn. Lấy mật sau khi cho gấu ăn cũng kém chất lượng. Thường thì nên lấy mật 1-2 ngày sau khi cho gấu nhịn ăn.

Dù sao cũng phải khẳng định nếu khai thác một cách khoa học, mật gấu ngựa sẽ có tác dụng rất tốt trong điều trị một số bệnh như xơ gan, sỏi mật, gãy xương.

Mới đây nhất, chúng tôi đã phân tích và phát hiện mật gấu ngựa còn có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư. Mật gấu ngựa sẽ làm thay đổi tế bào ung thư, khiến các loại thuốc chữa ung thư dễ ngấm vào khối u hơn.

(Theo Tuổi Trẻ)
Nhiều người thuộc giới nhậu truyền tai nhau cách phòng say: uống vài viên paracetamol trước khi vào cuộc rượu để có thể "dzô" được nhiều, có uống quá đà cũng không bị nhức đầu, choáng váng. Lâu dần, "phương pháp" này sẽ dẫn đến bệnh gan.

Anh Ba Hùng (TP HCM) nổi tiếng là "anh hùng bia rượu” vì có phong thái đĩnh đạc. Anh cứ làm một mạch hết cả ly rồi đặt cốc xuống, không ồn ào, uống nhiều thì mặt chỉ hơi tái đi một chút. Nhưng gần đây, anh Ba thấy mỏi mệt, chán ăn, da dần dần vàng ệch ra. Tuy vẫn còn uống được nhưng "phong độ" của anh không còn như trước; chỉ được mấy chầu là đã mệt, bỏ về sớm mặc cho mọi người chèo kéo. Thấy không ổn, anh đến bệnh viện và mới biết mình bị cả rượu bia và thuốc "phòng say" làm hại.

Mỗi lần uống rượu bia, anh Ba Hùng thường uống trước 3-4 viên paracetamol. Nếu trong ngày có vài ba lần nhậu thì trong dạ dày anh có đến chục viên. Cách làm này anh học được từ một bạn rượu khác. Lần đầu dùng thử thấy có kết quả: uống được nhiều, nếu quá liều thì mệt nhưng ít bị choáng váng, nhức đầu. Cứ thế, anh tiếp tục và coi nó như một bí quyết. Ngờ đâu, bí quyết này làm cho anh sớm "đổ" vì rượu bia hơn.

Paracetamol là thuốc có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, làm giảm đau, hạ nhiệt. Khi vào cơ thể, nó chuyển hóa thành các chất trung gian, trong đó có độc tố N-acetyl benzoquinonimin. Nó được thải trừ sau khi tiếp tục chuyển hóa nhờ một chất khác trong gan là gluthation. Nếu uống paracetamol trong phạm vi liều điều trị, hoặc gan người bệnh không có vấn đề gì thì quá trình giải độc này diễn ra suôn sẻ. Nhưng nếu uống quá liều, quá trình đó bị trở ngại do cơ thể không có đủ gluthation. Hậu quả là gan bị nhiễm độc N-acetyl benzoquinonimin.

Rượu bia vốn là thứ gây độc cho gan. Nếu lại dùng paracetamol để phòng say thì cơ thể sẽ chịu cả 2 loại độc, làm tăng gánh nặng cho gan. Rượu bia gây giãn mạch, nhiệt bốc ra ngoài làm cho nóng ở mặt nhưng thực tế thân nhiệt lại giảm. Paracetamol chỉ làm hạ nhiệt lúc thân nhiệt cao. Uống paracetamol trong trường hợp này không làm giảm lượng nhiệt bốc lên mặt, cũng chẳng có ích lợi gì thêm cho thân nhiệt cả.

Khi mới uống ít, rượu bia ức chế trung tâm điều khiển vận động làm người uống khoa chân múa tay, nói năng nhiều hơn... Điều này gây ngộ nhận là rượu bia gây “kích thích, sảng khoái”. Khi uống nhiều, rượu bia ức chế toàn bộ thần kinh trung ương. Trạng thái giống như “kích thích, sảng khoái” đó mất đi và chuyển sang mệt mỏi, đờ đẫn. Còn paracetamol ức chế thần kinh trung ương. Nhờ sự ức chế ấy, người uống rượu đỡ choáng váng, nhức đầu; nhưng thuốc cũng gây mệt. Cái mệt do rượu bia cộng với cái mệt do paracetamol đem lại làm cho người uống mất sức nhiều hơn.

Chỉ riêng rượu bia đã dẫn đến bệnh gan. Việc uống paracetamol thường xuyên càng rút ngắn con đường dẫn đến bệnh này.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
    Hành củ, kiệu muối là những món ăn mang đậm hương vị ngày Tết mà gần như trong mỗi gia đình đều có. Nhưng khi hành củ, kiệu muối để lâu nổi váng mốc thì có chứa độc tố có thể có thể gây bệnh ung thư gan.
Các loại dưa món như hành củ, kiệu muối, su hào, cà rốt muốn có vị chua ngọt rất dễ ăn. Nó có tác dụng giảm ngấy, kích thích vị giác ngon miệng hơn khi ăn những món ăn béo ngậy như thịt mỡ, bánh chưng… Chất xơ trong dưa món, củ kiệu còn có khả năng chống béo phì, cải thiện sự bài tiết cholesterol.

Tuy nhiên, các chuyên gia về phòng chống bệnh ung thư luôn khuyên mỗi người nên hạn chế sử dụng một số loại thực phẩm ướp muối và hun khói như thịt, cá hun khói, hoặc ủ chua, ngâm giấm như các loại dưa món, dưa chua trong đó có cả hành củ và kiệu.

Các loại thức ăn muối mặn như: Dưa chua, cà pháo… làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày do có chất nitrosamin. Song, ở những người ăn thường xuyên các thực phẩm đó thì mới có nguy cơ ung thư cao còn nếu biết cách ăn uống, ăn vừa phải và ăn kèm với các thực phẩm chống ung thư như: Rau xanh, hoa quả tươi thì không có gì đáng ngại.

Đặc biệt, cần lưu ý khi hành muối, kiệu muối để quá lâu bị nổi váng hoặc mốc đen thì theo TS.BS Trần Đình Toán, trưởng khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Hữu Nghị, tuyệt đối không nên dùng. Những vi nấm trong các loại thực phẩm bị mốc đó về cơ bản là không gây hại nhưng có thể có một loại nấm gây hại là aspergilus flavor. Vi nấm này sản sinh ra một loại độc tố là aflatocin.

Theo các tài liệu nước ngoài thì về lâu dài aflatocin có thể gây bệnh ung thư gan, tổn thương hệ thần kinh trung ương, tim, phổi và sản sinh ra một số chất độc hại khác. Độc tố này cũng có trong các loại hạt mốc như lạc, đỗ, hướng dương và bánh mỳ mốc.

Vì thế, các chuyên gia khuyên rằng đối với hành củ, kiệu bị mốc nổi váng trắng thì có thể hớt bỏ váng, dùng nước ấm rửa sạch để ăn. Còn khi đã bị mốc nổi váng đen thì tốt nhất không nên ăn

HỒNG ÁNH
Một nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng, rượu vang đỏ không chỉ có tác dụng tốt cho tim mạch mà nó còn có khả năng ngăn chặn sự xuất hiện của các khối u ác tính.
Ung thư ruột là một căn bệnh thường gặp, số bệnh nhân của căn bệnh này ngày một gia tăng. Nhưng một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học tại thành phố New York đã mang lại cho chúng ta những tia hy vọng mới.
Tiến sĩ Joseph Anderson đã công bố kết quả của công trình nghiên cứu với rượu vang đỏ tại một hội nghị bàn về các căn bệnh liên quan đến dạ dày và ruột do một số trường đại học Hoa Kỳ tổ chức.

Có thể tóm tắt như sau: Nếu thường xuyên nhấm nháp một lượng rượu vang đỏ thích hợp thì sẽ ngăn chặn được những rủi ro của căn bệnh ung thư ruột gây ra.

Nhóm các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và khám bệnh cho hơn 1700 bệnh nhân với sự trợ giúp của các thiết bị hiện đại nhằm chuẩn đoán sớm căn bệnh ung thư đường ruột. Kết hợp với quá trình đó, người ta đã tiến hành đặt câu hỏi về thói quen dùng đồ uống đối với những người tham gia vào quá trình nghiên cứu. Qua đó các nhà khoa học đã chia những người này thành 3 nhóm sau:
Nhóm 1: Gồm 245 bệnh nhân, những người thường xuyên sử dụng rượu vang đỏ.
Nhóm 2: Gồm 115 người ưa thích loại rượu vang trắng.
Nhóm 3: Gồm 1381 người đã trả lời: Không dùng đồ uống có cồn.

Kết quả khám bệnh cho thấy: Hoàn toàn bất lợi đối với những người kiêng rượu và những người ưa thích rượu vang trắng. Trong nhóm uống rượu vang đỏ chỉ có 3,4% cho kết quả dương tính với căn bệnh ung thư ruột, trong khi đó ở hai nhóm còn lại thì chỉ số này là 8,8%.

Các nhà khoa học đã phỏng đoán rằng, trong những quả nho đỏ có chứa một hoạt chất có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành các khối u ác tính. Chất quí báu đó là Resveratrol, nó có tác dụng hạn chế chất đạm, một chất cần thiết cho sự hình thành và phát triển của các tế bào ung thư.

Qua đó Tiến sĩ Joseph Anderson khẩn thiết đề nghị mọi người nên thay đổi thói quen về sử dụng đồ uống có cồn. Ông nói: “Những ai hay dùng đồ uống có cồn như rượu, bia thì nên chuyển sang uống rượu vang đỏ sẽ có lợi hơn cho sức khoẻ”.

Theo saokimpharma.com
Vào những ngày Tết, bạn và bạn bè thường họp mặt ăn uống, và dĩ nhiên là không thể thiếu rượu, bia mà dễ bị say. Vậy có cách nào làm giã rượu hiệu quả? Xin mách bạn một số cách giải rượu trong cuộc vui những ngày Tết.

 Khi say rượu xắt lát một lát chanh tươi và ăn với muối
hoặc uống nước chanh không pha đường
 cũng rất hiệu quả
.

1. Uống nước, ít nhất cũng bằng lượng rượu uống vào để pha loãng nồng độ rượu trong cơ thể và giúp cho quá trình đào thải rượu được nhanh chóng, thuận lợi.

2. Xắt lát một lát chanh tươi và ăn với muối hoặc uống nước chanh không pha đường cũng rất hiệu quả.

3. Uống một tách cà phê đặc, sau một lúc sẽ giúp bạn tỉnh ngay.

4. Ăn cháo loãng, khi gặp cháo loãng, các chất cồn trong rượu bị ngưng tụ lại, do đó giảm mạnh khả năng hấp thụ cồn trong cơ thể.

5. Uống một ít lòng trắng trứng gà sống: Chất cồn trong rượu khi gặp chất protein trong lòng trắng trứng gà sẽ ngưng tụ, tránh cho niêm mạc dạ dày tiếp xúc với cồn.

6. Ăn nhiều trái cây có tính axits cao như: táo, lê, cam, dâu,… 

Những cách  “phòng say hơn giải say”
1. Chất uống có cồn có khuynh hướng dẫn đến những cơn say, vì thế trước lúc khai bữa bạn hãy ăn một số thức ăn giàu chất béo và đạm như: xúc xích, hamburger, thịt. Những thực phẩm này sẽ giúp no lâu hơn và làm chậm tiến trình hấp thu chất cồn trong cơ thể.

2. Nên uống nước vì nguyên nhân chính gây nên tình trạng say xỉn là do cơ thể thiếu nước. Không nên uống loại rượu có pha cafein để tránh buồn nôn và đau đầu vào những ngày sau đó.

3. Nếu cảm thấy
bụng đói trong những lúc “say sưa nâng cốc”, hãy ăn thêm một món gì đó để ngăn ngừa tình trạng hạ đường huyết có thể xảy ra.

Chúc bạn có những ngày Tết vui vẻ!

Theo Bếp gia đình
Khi say rượu, có thể uống nước mía ép, nước cơm hoặc ăn trái cây: lê, cam, quít, bưởi, bom, chuối...
+ Uống sữa bò: Sữa bò lẫn với cồn rượu, làm vón kết chất đạm, trì hoãn sự hấp thu cồn rượu trong dạ dày, và có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày.

+ Uống nước cơm: Trong nước cơm chứa nhiều đường và vitamin A, nhóm B, có tác dụng giải độc. Nếu thêm đường cát trắng lượng vừa phải, càng đạt hiệu quả.

+ Uống giấm chua: Giấm và cồn rượu hòa quyện lại sẽ giảm tác hại nơi cơ thể. Dùng giấm 50 ml, đường đen 25 g, gừng tươi 3 lát, cùng sắc nước uống.

+ Uống nước vỏ bưởi: Vỏ bưởi tươi xắt vài lát rửa sạch, thêm một nước lượng vừa, sắc uống.

+ Uống nước mía: Mía rửa sạch, gọt vỏ, nhai nuốt hay cán lấy nước uống.

+ Ăn trái cây: Lê, cam, quít, bưởi, bom, chuối, dưa hấu, củ năn, dâu... đều có công hiệu làm giảm nồng độ cồn trong máu, giúp giải rượu.


+ Ăn củ cải: Củ cải trắng tươi 0,5 kg rửa sạch, gọt vỏ vắt lấy nước, uống thay trà, hay nước vắt củ cải trắng thêm đường cát trắng lượng vừa để uống. Mỗi lần 1 ly, uống liền vài lần, có tác dụng giải rượu và khử mùi rượu.

+ Ăn khoai lang: Khoai lang sống băm nhuyễn, thêm đường cát trắng, hiệu quả giải rượu rất tốt.

+ Uống nước đậu xanh: Đậu xanh 100 g, thêm nước lượng vừa sắc uống, hay dùng nước ấm rửa sạch đậu xanh, băm nhuyễn, thêm nước sôi rồi hãm uống

Theo: Sức khoẻ và đời sống

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.
Cùng với tuổi tác và thói quen sử dụng thực phẩm chứa nhiều chất độc hại như bia rượu, thức ăn có chất bảo quản, ít vận động, cơ thể sẽ ngày càng mệt mỏi, suy nhược, ăn uống kém, khó tiêu …Đó là biểu hiện của sự tổn thương các cơ quan trong cơ thể, mà nơi dễ bị tổn hại nhất là GAN. Tại sao?
Đó là vì:
-          Gan là 1 cơ quan phức tạp, đảm nhận trên 500 chức năng khác nhau.
-          Hoạt động liên tục 24/24, ngày càng suy yếu theo tuổi tác.
-          Ít biểu hiện triệu chứng bệnh trừ khi tổn thương trầm trọng
-          ………….
Chỉ khi gan khỏe mạnh, chúng ta mới sống khỏe.

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

                                 BS. Nguyễn Diệu Thúy
Có thể nói gan nhiễm mỡ là bệnh mà bất cứ ai cũng có nguy cơ mắc phải. Hiện căn bệnh này ngày càng phổ biến, nhất là ở những người nghiện rượu, béo phì, tiểu đường, dùng corticoid kéo dài, ăn uống bất hợp lý và ít vận động...
Ai dễ mắc bệnh gan nhiễm mỡ?

Gan nhiễm mỡ là bệnh dư thừa lượng mỡ tích tụ trong tế bào gan. Cụ thể là do quá trình chuyển hóa acid béo tại gan bị rối loạn dẫn đến giảm sự thải mỡ ở gan và hậu quả là tăng nhiễm mỡ gan. Thông thường, bệnh chỉ được phát hiện khi người bệnh được xét nghiệm máu, siêu âm hay sinh thiết tế bào gan; hoặc chỉ khi nào tốc độ lắng đọng mỡ trong gan xảy ra nhanh, người bệnh có cảm giác đau tức hoặc nặng vùng gan do bao gan căng ra. 

Người bị gan nhiễm mỡ thường có tiền sử nghiện rượu, tiểu đường, béo phì, thiếu máu, ở người bị bệnh nhiễm khuẩn mạn tính như viêm loét đại tràng, viêm tụy mạn tính, suy gan mạn tính, lao... Ngoài ra, gan nhiễm mỡ còn do nhiễm các độc chất đối với gan như phosphore, carbon tetraclorua, gan nhiễm mỡ cấp tính trên sản phụ, gan nhiễm mỡ vì thiếu dinh dưỡng... Lưu ý, không nhất thiết phải là những người béo phì mới bị gan nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ còn hay bắt gặp ở những người ăn chay trường, ăn uống đạm bạc, suy dinh dưỡng lâu ngày, thiếu các vitamin và protein để tạo thành các chất chuyển hóa cần thiết để đưa chất mỡ ra khỏi gan.

Hiện nay, có quan điểm coi gan nhiễm mỡ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan. Bên cạnh đó cũng có thể hiểu đây là một bệnh lý do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, là hậu quả của nhiều bệnh và đến một lúc nào đó sẽ thành một bệnh thật sự, rất dễ dẫn đến xơ gan, suy gan, ung thư gan...

Dấu hiệu phát hiện gan nhiễm mỡ?

Tình trạng nhiễm mỡ ở gan xảy ra từ từ, do đó bệnh có thể giữ nguyên trong nhiều năm hoặc đột nhiên tiến triển thành xơ gan với hậu quả khó tránh khỏi là chết. Gan nhiễm mỡ mức độ nhẹ (hàm lượng mỡ chiếm 5%-10% trọng lượng gan) có thể không có triệu chứng lâm sàng mà người bệnh tự cảm thấy được. Còn mức độ vừa hay nặng (hàm lượng mỡ 10%-30%) sẽ có những biểu hiện như chán ăn, buồn nôn, nôn, trướng bụng. Những người ở thể nặng còn bị chứng vàng da, cổ trướng. Và khi được làm các xét nghiệm máu thì các chỉ số chức năng gan như aminotransferase và alkaline phosphatase huyết thanh tăng nhẹ.

Những bệnh nhân gan nhiễm mỡ do những nguyên nhân khác nhau thì cũng có kèm theo những triệu chứng đặc trưng của những nguyên nhân đó. Ở các bệnh nhân tiểu đường và béo phì, các triệu chứng thường không rõ rệt trừ việc gan to và hơi tức vùng gan, xét nghiệm cho thấy chức năng gan bình thường hoặc tăng nhẹ men gan. Gan nhiễm mỡ cấp do ăn uống quá tải hay gây đau tức vùng gan, lượng mỡ máu cao. Những người nghiện rượu có thể bị gan nhiễm mỡ cấp sau một bữa rượu quá chén, thường đau vùng thượng vị phải cùng với các dấu hiệu đau do tắc mật. Nếu bị gan nhiễm mỡ cấp (thường gặp khi thai nghén) kèm theo vàng da và suy gan sẽ có biểu hiện rối loạn tâm thần, xét nghiệm thấy men gan và bilirubin tăng.

Nhiễm mỡ ở gan kéo dài làm giảm oxy hóa acid béo ở gan, tế bào gan bị hủy hoại, chức năng gan suy giảm. Người bị gan nhiễm mỡ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ như xơ gan, thậm chí là ung thư gan...

Đã có thuốc đặc hiệu chưa ...?

Hiện nay chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu gan nhiễm mỡ nhưng nếu được chẩn đoán và có một số trị liệu thích hợp có thể giúp giảm tình trạng gan nhiễm mỡ, phục hồi tế bào gan... Vì vậy, mỗi người nên có thói quen khám sức khỏe định kỳ và nếu thấy mình có những triệu chứng như đã nói ở trên thì cần làm xét nghiệm máu để có chẩn đoán chính xác, kịp thời phòng tránh và điều trị gan nhiễm mỡ.

Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân điều trị liên quan đến gan nhiễm mỡ đang có xu hướng tăng nhanh. Để phòng bệnh cần có chế độ ăn uống, sinh hoạt điều độ, bỏ rượu. Tập luyện thể dục thường xuyên, trong chế độ ăn nên tăng rau tươi, hoa quả, không nên ăn nhiều mỡ, đường và các phủ tạng động vật. Tăng cường dinh dưỡng bằng cách ăn tăng đạm thực vật, cá và nhiều vitamin. Kiêng hoặc tạm ngưng uống bia rượu là việc đầu tiên nên làm, nhất là đối với gan chưa bị ứ đọng nhiều và những người xơ gan nặng.

Ăn uống hợp lý, không nên ăn chuyên một loại thức ăn nào đó để phòng ngừa thiếu dưỡng chất. Không nên nhịn ăn giảm béo, vì giảm béo dễ dẫn đến chán ăn. Muốn giảm béo khoa học phải kết hợp giữa ăn uống với vận động thích hợp để giảm mỡ dần dần... 

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

 


Hồng Nhung

Nguồn tin: Theo Pháp luật
Viêm gan B là một thể bệnh gan nặng do virus viêm gan B (HBV) gây ra. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), viêm gan B là 1 trong 10 bệnh gây tử vong nhiều nhất (khoảng 1 triệu ca tử vong mỗi năm) và có khả năng lây nhiễm mạnh mẽ - gấp 100 lần virus HIV.

Con đường lây nhiễm

Virus viêm gan B (HBV) lưu hành trong máu, do đó chủ yếu lây nhiễm qua 3 con đường chính: đường quan hệ tình dục, đường máu và từ mẹ sang con. Quan hệ tình dục, kể cả giữa những người đồng tính luyến ái; truyền máu toàn phần hoặc truyền các chế phẩm của máu bị nhiễm HBV; da bị trầy xước tiếp xúc với dịch tiết của người có HBV; dùng chung các đồ vật như dao cạo râu, bàn chải răng,… tất cả đều có thể làm lây nhiễm virus viêm gan B và gây bệnh.

Nếu người mẹ bị nhiễm HBV ở quý I thai kỳ thì tỉ lệ truyền bệnh cho thai nhi chỉ là 1%; nhưng nếu ở quý III thai kỳ thì tỷ lệ này lên tới 70%. Trong khi ở nước ta, phụ nữ có thai nhiễm HBV chiếm 10 -13%, cho nên đây hầu như là con đường lây nhiễm phổ biến và quan trọng nhất.

90% người lớn mang virus viêm gan B không cần điều trị và có thể tự lành bệnh. 10% trường hợp sẽ bị viêm gan mãn tính hoặc chịu các biến chứng xơ gan, ung thư gan và 1% có thể bị teo gan vàng cấp, các biến chứng này đều có thể dẫn đến tử vong.

"Kẻ giết người thầm lặng”  

Biệt danh này được đặt cho bệnh viêm gan B bởi sự lây lan lặng lẽ và quá trình tiến triển bệnh âm thầm của nó. Hầu hết người bệnh đều không biết mình có HBV trong máu và thường vô tình lây nhiễm cho người khác. Chỉ một vài người có những triệu chứng bệnh giống như cúm nhẹ, phân lỏng, nước tiểu đậm màu, mệt mỏi, bị sốt và vàng da. Do đó, hậu quả viêm gan B để lại rất nặng nề, ngoài viêm gan cấp và mãn tính còn có xơ gan, chảy máu đường tiêu hoá do giãn mạch máu, ung thư gan, teo gan vàng cấp. Theo số liệu khảo sát năm 2005, ở Việt Nam cứ 4 người mang siêu vi B mãn tính sẽ có 1 người bị chết do xơ gan hoặc ung thư gan. Người bị viêm gan B mạn tính có nguy cơ ung thư gan cao gấp 20 lần so với người bình thường và 40% trong số họ sẽ tử vong vì ung thư gan. Đặc biệt là do triệu chứng lâm sàng không rõ rệt nên nhiều người bệnh đã chết vì ung thư gan mà không biết thủ phạm chính là viêm gan B.

Ngăn ngừa và phòng chống

Cách phòng bệnh viêm gan B tốt nhất là tiêm phòng vaccine sớm và đủ liều lượng, đặc biệt đối với trẻ em. Vaccine viêm gan B có khả năng phòng ngừa đến 90% các trường hợp có nguy cơ cao. Trẻ em nên được tiêm vaccine trong vòng 24h sau sinh và tiêm nhắc lại khi trẻ được 1 - 2 tháng tuổi. Nếu người mẹ bị viêm gan B thì trẻ cần được tiêm huyết thanh đặc hiệu chống siêu vi B ngay trong phòng sinh và có thể bú sữa mẹ bình thường.

HBV lây nhiễm qua đường máu, vì vậy nên chú ý không dùng chung các dụng cụ có thể gây xây xát da như dao cạo, bàn chải răng, cắt móng tay, dụng cụ y tế,… để tránh bị nhiễm bệnh. Một số hình thức làm đẹp như xăm hình, bấm lỗ tai,… cũng có thể là con đường lây bệnh. Nên quan hệ tình dục an toàn và cần đi khám sức khoẻ định kỳ để kịp thời phát hiện bệnh. Hạn chế uống các chất kích thích đặc biệt là rượu vì rượu không những làm tổn thương tế bào gan mà còn đẩy nhanh quá trình sao chép virus viêm gan B, khiến số lượng HBV tăng trong máu.

Các thực phẩm giầu Vitamin và dưỡng chất như rau xanh, trái cây tươi, thịt, cá, trứng, đậu,... cũng giúp gan khoẻ mạnh và ngăn ngừa các bệnh về gan.

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

 


Bác sỹ Nguyễn Diệu Thuý

Nguồn tin: Theo VOV News
Gan là một bộ phận quan trọng với nhiều chức năng không thể thiếu trong một cơ thể khoẻ mạnh. Những kiến thức cơ bản sau sẽ giúp bạn hiểu thêm về cơ quan quan trọng này.

Những chức năng chính của gan

- Lọc máu
- Điều chỉnh lượng đường trong máu
- Tiết mật
- Chuyển hoá các chất béo
- Tạo ra protein cho cơ thể
 Nguyên nhân gan bị nhiễm độc
- Sử dụng thuốc và các loại hormone có hại cho gan
- Không khí ô nhiễm, nguồn nước uống không đảm bảo
- Stress trong cuộc sống hàng ngày
- Thực phẩm hàng ngày có hại cho gan
- Hút nhiều thuốc lá và uống nhiều rượu bia
- Sử dụng các loại thuốc gây nghiện.

Những triệu chứng điển hình khi gan bị nhiễm độc:

- Cơ thể mệt mỏi, trì trệ và suy nhược
-Bị các bệnh về da, da vàng
- Chất béo trong cơ thể khó giảm
- Đang trong giai đoạn mãn kinh

- Đau đầu, giảm glucoza trong máu, tăng mức độ triglycerid trong máu

- Bị giãn tĩnh mạch
- Khả năng loại bỏ độc tố trong máu kém
 Một số cách cải thiện chức năng gan

1. Uống 1 cốc nước chanh tươi vào buổi sáng. Nước chanh giúp giải chất độc tích tụ qua đêm ở túi mật, kích thích bàng quang co bóp và giúp mật chảy vào ruột con.

Nên uống nước chanh 30 phút rồi mới ăn sáng.

2. Ăn các loại thực phẩm tốt cho gan như hành, tỏi, các loại quả thuộc họ đậu, lê, táo, bông cải xanh, cải bruxen, cải bắp, atisô, củ cải, cà rốt, bồ công anh, nghệ và cải xoăn.

3. Giảm stress và không nên ăn kiêng, không hút thuốc và không uống nhiều bia, rượu, cà phê.

 4. Uống trà rễ bồ công anh giúp hỗ trợ gan giải độc và tăng cường phục hồi lại các mô gan.

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

Hồng Nhung 

Nguồn tin: Theo Dân trí
10 lời khuyên dưới đây sẽ giúp bạn có một lá gan khỏe, tránh xa bệnh ung thư gan.
1. Hãy thận trọng với những gì mà bạn nghĩ rằng tốt cho gan: Rất nhiều người có xu hướng dùng nhiều loại thuốc hoặc có chế độ dinh dưỡng được cho là tốt cho gan. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng lại phản tác dụng, đặc biệt là khi người sử dụng đã mắc bệnh viêm gan.
2. Không uống quá nhiều đồ uống có cồn. Tất cả các đồ uống có cồn đều gây hại cho gan. Sau khi đưa vào cơ thể một lượng lớn thì không loại thuốc nào có thể cứu bạn, thậm chí còn gây quá tải cho gan.
3. Hãy cẩn thận với những gì bạn ăn.
4. Chế độ dinh dưỡng cân bằng và tránh thái quá.
5. Không ăn nhiều thực phẩm rán, nướng.
6. Ăn nhiều ngũ cốc, hoa quả, rau mà có nhiều chất xơ (chất xơ cũng có tác dụng khử độc).
7. Tránh ăn quá nhiều đồ ăn nhanh, đặc biệt là thực phẩm nhiều chất béo.
8. Tuyệt đối không bao giờ được nhịn đói bởi khi đó sẽ dẫn tới nhu cầu khoáng chất và các yếu tố dinh dưỡng khác không có lợi cho cơ thể.
9. Đừng thử giảm cân nhanh chóng. Giảm hơn 1 kg/tuần cũng sẽ gây quá tải cho gan.
10. Luyện tập thường xuyên.

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

Hồng Nhung
Nguồn tin: Theo Giao thông vận tải

   Đối với bệnh nhân bị viêm gan, chế độ và thức ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng bệnh. Có thức ăn giúp cho việc điều trị viêm gan; đồng thời có thức ăn làm bệnh tăng thêm. Dưới đây là những thức ăn mà người bệnh gan không nên ăn:

Thịt mỡ

So với thịt nạc, thịt mỡ chứa tới 90,8% chất mỡ động vật, chỉ có 2,2% chất protein. Người bị viêm gan nếu hấp thụ quá nhiều mỡ, có thể làm cho bệnh tình trở nên xấu đi ở mức độ khác nhau, thường gặp nhất là xuất hiện chứng “gan nhiễm mỡ”. Vì vậy, người viêm gan nên kiêng ăn thịt mỡ.

 

Thịt dê

Người bị viêm gan phải kiêng ăn thịt dê. Nguyên nhân là thịt dê có tính ngọt, nóng, ăn quá nhiều có thể làm cho một số vùng nhiễm bệnh trong cơ thể làm cho một số vùng nhiễm bệnh trong cơ thể phát triển, bệnh tình nặng thêm.

 

Y học hiện đại chứng minh, sau khi hấp thụ nhiều protein và chất béo, gan của người mắc bệnh viêm gan sẽ không thể hoàn thành chức năng trao đổi chất, như quá trình phân giải, hấp thụ... một cách hữu hiệu. Từ đó càng tăng thêm gánh nặng cho gan, dẫn đến bệnh tình nặng thêm. Thịt dê là thực phẩm giàu chất protein và mỡ, vì vậy người bị viêm gan nên ăn ít hoặc không nên ăn.

Ngọc Hoàn

Nguồn tin: Sức khỏe & đời sống

 

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

 

Theo Đông y, điều trị viêm gan mãn tính cần kèm với cách dưỡng can kiện tỳ, bổ thận kèm thanh nhiệt. Dưới đây là những món dùng thích hợp cho người mắc bệnh này:
Canh cá chép, bí đao

Cá chép 1 con (khoảng 0,5 kg), bỏ vảy và nội tạng, rửa sạch, cắt đoạn, bí đao 250g, gọt vỏ rửa sạch thái lát. Hai thứ cùng cho vào nồi thêm nước và đầu hành hầm canh. Dùng ăn tùy ý.

Cháo cà chua, rau cần, cà rốt

Cà chua rửa sạch, thái hạt lựu, rau cần rửa sạch thái nhuyễn, cà rốt rửa sạch thái nhuyễn (mỗi thứ lượng bằng nhau). Cho tất cả vào nồi nấu chín, nêm nếm gia vị.

Canh thịt nấu nấm rơm

Nấm rơm tươi 100g, thịt nạc 100g, cả hai rửa sạch thái lát. Cho thịt vào nồi, thêm nước nấu chín, rồi cho nấm rơm vào nấu tiếp. Nêm nếm gia vị, dùng liền vài tuần.

Chè nấm tuyết - câu kỷ

Câu kỷ tử 30g, rửa sạch, nhân nhĩ (nấm tuyết) 10g, sau khi ngâm nở bỏ cuống rửa sạch. Hai thứ cùng cho vào nồi thêm nước nấu chín, nêm đường phèn 30g, tiếp tục nấu sôi. Dùng ăn tùy ý, thích hợp dùng cho viêm gan mạn tính, gan nhiễm mỡ và xơ gan.

Chè câu kỷ tử

Gạo tẻ 100g, vo sạch, cho vào nồi thêm nước nấu nở ra, thêm câu kỷ tử 20g, nấu đến khi đặc thì cho vào đường trắng. Hằng ngày dùng ăn sáng và chiều.

Chè đậu phộng - táo đỏ

Táo đỏ 50g, đậu phộng (cả vỏ trong) 50g, đường phèn 50g. Đậu phộng rửa sạch, cho vào nồi thêm nước nấu chín, cho táo đỏ vào nấu sôi tiếp, nêm đường nấu cho tan. Ăn trước khi đi ngủ, ngày 1 lần, dùng liền 1 tháng, dùng cho viêm gan mạn tính, men gan tăng cao, cũng có thể dùng cho viêm gan cấp tính.

Canh táo đỏ - nhân trần

Táo đỏ 15g, nhân trần 30g, cho vào nồi đất thêm nước sắc, uống ấm. Dùng liền trên 10 lần. Trong thời gian dùng món canh này cần kiêng mỡ và thịt.

Chè củ mài - hạt dẻ

Củ mài 100g, hạt dẻ 50g, quất vàng 20g. Củ mài và quất vàng riêng biệt rửa sạch thái lát, cùng với hạt dẻ đã vo sạch cho vào nồi, nấu thành chè, nêm đường trắng 15g. Dùng ăn sáng và chiều.

Canh nấm rơm

Nấm rơm 100g, cho vào nồi thêm nước nấu chín, nêm nếm gia vị, ăn nấm dùng canh, ngày 1-2 lần. Dùng lâu dài, thích hợp cho người viêm gan mãn tính.

Hồng Nhung
Nguồn tin: Theo Thanh nien online

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

 

Bác sĩ cho em hỏi bệnh viêm gan siêu vi B mạn tính có thể chữa khỏi không? Có phải viêm gan B mạn tính là giai đoạn thứ ba của của một quá trình bị viêm không? Nếu như viêm mạn tính không được chữa khỏi, có phải sẽ chuyển tiếp giai đoạn sơ gan rồi ung thư gan không? và nếu như viêm mạn tính được chữa khỏi thì có phải nó sẽ quay lùi về viêm cấp không? Em rất thắc mắc xin Bác sĩ tư vấn giúp.

Trả lời:

 

Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến suy gan, xơ gan, ung thư gan và tử vong.

 

Mục tiêu điều trị đối với viêm gan B mạn tính là làm giảm mức tải virút trong máu bệnh nhân. Theo hướng dẫn mới của Hiệp hội

 

Nghiên cứu bệnh gan Mỹ (AASLD) được công bố tại hội nghị APASL 2007 ở châu Á, mục tiêu cơ bản của điều trị là đạt được sự ức chế duy trì đối với sự sao chép của virút viêm gan B và đẩy lùi bệnh gan. Mục tiêu tối hậu là ngăn chặn xơ gan, suy gan và ung thư gan.

 

Đối với một số người nhiễm mạn tính (khoảng 25%) cần điều trị thì có thuốc đặc hiệu là uống và tiêm. Thuốc uống hiện có 4 loại đã được cơ quan dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho sử dụng trong điều trị là Lamivudine, Adefovir, Entecavir và Telbivudine.

 

Mặc dù có nhiều loại thuốc đã được công nhận là thuốc chống siêu vi B nhưng hiệu quả điều trị của những thuốc này chưa thật là hoàn hảo vì không điều trị dứt hẳn siêu vi. Thuốc chỉ có lợi cho một số bệnh nhân, vì vậy việc quyết định điều trị cần ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.

 

May mắn là đa số người mang siêu vi B mạn tính vẫn sống khỏe mạnh suốt đời mà không cần dùng thuốc. Tuy vậy không có cách nào để biết ai sẽ là người vẫn còn khỏe mạnh và ai sẽ là người sẽ bị các biến chứng trong tương lai nên điều tối quan trọng là tất cả những bệnh nhân bị viêm gan B mạn tính nên đi khám bệnh định kỳ cho dù có được điều trị thuốc hay không.

 

Chúc bạn sức khỏe.

 

"Từ điển Y Dược trực tuyến" http://www.thuocbietduoc.com.vn

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.
Bạn đang sống yêu đời khỏe mạnh nhưng liệu trong cơ thể bạn có tiềm ẩn những nguy cơ nào không? Có rất nhiều căn bệnh nan y có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm. Hãy thực hiện 5 loại xét nghiệm sau để tự cứu lấy mình bạn nhé.
Xét nghiệm cholesterol

Bệnh tim là thủ phạm gây ra nhiều cái chết cho phụ nữ. Đặc biệt là khi bạn lớn tuổi, thời gian, lối sống, thức ăn làm bào mòn sức khỏe hệ tim mạch nhanh chóng. Đặc biệt là những người bị béo phì thì nguy cơ về bệnh tim mạch càng lớn. 

Xét nghiệm PAP 

Là xét nghiệm định kỳ nên làm 6 tháng một lần. Đặc biệt là vời những phụ nữ có quan hệ tình dục. Cơ quan sinh dục nữ rất phức tạp và trải qua nhiều biến đổi trong quá trình sinh nở. Phụ nữ lại rất dễ lây lan các bệnh tình dục. Vì vậy phải thực hiên loại xét nghiệm nhằm tìm ra sự thay đổi của những tế bào có thể dẫn đến các bệnh ung thư: Ung thư buồng trứng, ung thư cổ tử cung, …. 

Chụp X quang ngực 

Phụ nữ ở độ tuổi 40 cần chụp X quang ngực 2 năm một lần để tìm các khối u, đặc biệt là với những người gia đình có lịch sử bệnh ung thư vú. Ngoài ra bạn phải thường xuyên tự khám ngực cho mình để phát hiện sớm các khối u. 

Xét nghiệm ung thư ruột 

Ung thư ruột kết là nguyên nhân chính thứ 3 gây ra những cái chết cho phụ nữ. Bạn phải thực hiện các xét nghiệm về đường ruột và chữa các bệnh về đường tiêu hóa để đề phòng ung thư.

Khối u ác tính

Các khối u bất thường xuất hiện trên da bạn có thể dẫn tới ung thư da. Nếu da bạn có những biểu hiện bất thường thì phải đi xét nghiệm và không nên để da tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời. 

Các xét nghiệm này sẽ giúp bạn phát hiện sớm và chữa trị kịp thời. Đừng quên thực hiện trong các lần khám sức khỏe định kỳ hàng năm.
Dùng thuốc lung tung, không đúng chỉ dẫn và liều lượng dẫn đến không ít những nguy hiểm đến tính mạng. Dưới đây là 10 điều cấm kị khi dùng thuốc.
Uống thuốc tùy tiện

Hướng dẫn sử dụng thuốc ghi rõ “ngày uống 3 lần, uống trước khi ăn”, tức là 1 ngày 24h chia ra làm 3 , cứ 8 tiếng lại uống 1 lần. Nếu uống cả vào ban ngày thì sẽ làm cho nồng độ thuốc trong máu tăng cao, có thể gây nguy hiểm, mà buổi đêm lại không đạt được hiệu quả điều trị.

Còn “uống trước khi ăn tức là khi uống thuốc phải để trống dạ dày (uống trước bữa ăn từ 1 – 2h) nếu bạn vừa ăn một lô quà vặt thì dù là trước bữa ăn thì lúc này cũng không phải là lúc trống dạ dày. Còn “uống sau khi ăn” tức là phải uống thuốc khi đã ăn no.

2. Nằm uống thuốc

Nằm uống thuốc, thuốc sẽ dễ bị dính vào vách thực quản, không những ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn có thể gây kích ứng thực quản, dẫn đến các triệu chứng như ho, hoặc viêm cục bộ, nghiêm trọng có thể làm tổn thương vách thực quản, gây mầm mống cho bệnh ung thư thực quản. Bởi vậy, nên ngồi uống thuốc hoặc đứng uống thuốc.

3. Nuốt thuốc khô

Có một số người uống thuốc không uống nước mà nuốt luôn, điều này vô cùng nguy hiểm, một mặt có thể làm tổn thương thực quản, mặt khác do không có đủ nước để giúp làm tan thuốc, một số loại thuốc có thể sẽ kết thành sỏi ở trong cơ thể.

4. Nghiền thuốc hòa với nước uống

Nhiều người bản thân không nuốt được thuốc hoặc sợ trẻ con uống thuốc bị mắc đã tự ý nghiền nhỏ thuốc hoặc hòa ra với nước rồi uống, làm như vậy không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn có thể tạo ra những phản ứng xấu của thuốc. Bởi vậy, bạn không được làm như vậy trừ khi có sự căn dặn của bác sỹ, hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc ghi như vậy (thuốc đông y).

5. Uống thuốc bằng nước ngọt

Cách đúng nhất là uống thuốc với nước lọc ấm. Sữa, nước hoa quả, trà, côca, cà phê, rượu... đều có phát sinh tác dụng tương hỗ đối với thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

6. Uống thuốc thẳng từ chai

Trường hợp này thường gặp ở những loại thuốc nước hoặc hỗn hợp. Làm như vậy sẽ dễ làm thuốc bị nhiễm bẩn, tăng nhanh tốc độ biến chất, mặt khác không thể kiểm soát một cách chính xác lượng thuốc đưa vào cơ thể, vừa không đạt được hiệu quả điều trị, vừa làm tăng tác dụng phụ nếu uống quá liều.

7. Uống nhiều loại thuốc cùng một lúc

Khi uống nhiều loại thuốc cùng một lúc, sẽ khó tránh khỏi những tác dụng tương hỗ giữa các loại thuốc, thậm chí còn có thể dẫn đến một số những điều phiền phức mà ta không thể lường trước.

8. Uống quá nhiều nước

Làm như vậy sẽ làm giảm lượng axít có trong dạ dày, không có lợi cho việc tan và hấp thụ thuốc. Thông thường, khi uống dạng thuốc viên, chỉ cần uống một cốc nước ấm nhỏ là đủ. Đối với những loại thuốc nước dạng ngọt, nên uống nước sau khi uống thuốc 5 phút.

9. Uống thuốc xong vận động ngay

Sau khi uống thuốc, thông thường phải sau 30 – 60 phút thì dạ dày mới hấp thụ hết và mới phát huy tác dụng, trong giai đoạn đó cần phải có đủ lượng máu tham gia tuần hoàn vào quá trình đó. Việc vận động ngay sau khi dùng thuốc sẽ dẫn đến hiện tượng các cơ quan nội tạng không được cung cấp đủ lượng máu cần thiết, làm giảm hiệu quả hấp thu thuốc.

10. Ăn uống tùy tiện trong thời kỳ uống thuốc

Không phải chỉ có thuốc đông y mà cả thuốc tây y cũng chú trọng đến việc kiêng kị trong ăn uống khi đang dùng thuốc. Nếu ăn uống không hợp lí trong quá trình dùng thuốc sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc, nghiêm trọng hơn có thể còn nguy hiểm đến tính mạng. Ví dụ như dùng thuốc hạ huyết áp, chống đau tim phải kiêng uống rượu và hút thuốc, kiêng ăn mặn.

(GĐ & XH - Lady)

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.
Gấu bị nhốt trong những chiếc lồng chật chội khiến khớp, cơ bị teo; bị bẻ răng nanh; ăn uống nghèo nàn; sức khỏe suy kiệt; các túi mật bị phá hủy nặng nề do nhiều năm bị hành hạ trong các trại gấu....
“Nhân chứng” cho sự dã man
 
Trong thung lũng xinh đẹp tại vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo cách Hà Nội 70km về phía Bắc ngày 14/5 đã diễn ra một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng: Công bố ra mắt khu bán hoang dã đầu tiên dành cho gấu tại Việt Nam và chính thức khởi động giai đoạn II của dự án Trung tâm cứu hộ gấu.
 
Khởi động dự án Trung tâm cứu hộ gấu giai đoạn II tại Tam Đảo - Vĩnh Phúc (Ảnh: LH)

24 cá thể gấu đã được cứu hộ về trung tâm là bước khởi đầu cho thoả thuận của Tổ chức Động vật châu Á với Chính phủ Việt Nam trong việc cứu hộ 200 cá thể gấu, chấm dứt những đau đớn của chúng trong nhiều năm trong tay các chủ trại nuôi gấu lấy mật.

Chị Leanne Clark - bác sỹ thú y, người trực tiếp chăm sóc những con gấu từ những ngày đầu về trung tâm - kể: Chúng bị nhốt trong những cái lồng chật chội, chế độ ăn uống nghèo nàn, ngay cả việc tiếp cận đến những nguồn nước cũng không có, điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ của các con gấu.

Khi bị nhốt trong những chuồng nhỏ như vậy, gấu không có chỗ để duỗi chân. Tình trạng này kéo dài dẫn tới các khớp, cơ của gấu bị cứng, teo đi và các bác sỹ ở đây phải sử dụng rất nhiều thời gian để phục hồi các cơ xương cho chúng được vận động bình thường. Chế độ ăn uống nghèo nàn còn làm cho thị lực bị suy giảm rất nhiều do tác hại của việc suy dinh dưỡng kéo dài…

Dã man hơn, người ta còn cắt răng nanh của gấu để hạn chế việc gấu cắn chuồng. “Vì vậy, khi chúng tôi tiếp nhận gấu về thì thấy chúng thường có vấn đề về răng. Điều này không chỉ khiến gấu gặp khó khăn trong vấn đề ăn uống mà còn tạo ra kẽ hở cho vi rút, vi khuẩn thâm nhập vào máu và lan ra khắp cơ thể” - bác sỹ Leanne Clark nói.

Hầu hết các cá thể gấu được cứu hộ đều bị mất chân do chúng bị đánh bẫy. Phần lớn các túi mật của các cá thể gấu đều bị huỷ hoại nặng nề do nhiều năm bị hành hạ trong các trại gấu.


Tiến sỹ Tuấn Bendixsen - trưởng đại diện Tổ chức Động vật châu Á tại Việt Nam còn cho biết: Gấu con khi được phát hiện hầu hết đều trong tình trạng rất nguy kịch do bị tách mẹ từ quá sớm. Thường những người đi săn gấu chọn giải pháp giết gấu mẹ rồi bắt gấu con vì gấu mẹ có thể tấn công lại. Nhưng khi bắt gấu con, họ lại không biết cách chăm nom, thậm chí chẳng cho ăn uống gì cả.

Theo thông tin từ trung tâm cứu hộ gấu, hầu hết các cá thể gấu được cứu hộ đều bị mất chân do chúng bị đánh bẫy. Phần lớn các túi mật của các cá thể gấu đều bị huỷ hoại nặng nề do nhiều năm bị hành hạ trong các trại gấu.

“Chúng tôi lo sợ một số cá thể gấu bị chứng viêm màng bụng do các phương pháp hút mật thô sơ sử dụng những chiếc kim dài không vệ sinh chọc liên tiếp vào bụng chúng trước khi hút mật”, bà Angela Leary - quản lý truyền thông nói.
 
Chú gấu này đã được chấm dứt những chuỗi ngày đau đớn kéo dài nhiều năm trong trại gấu
Nguy cơ sử dụng mật “nhiễm bẩn”

Nhiều người dùng mật gấu vẫn không biết những nguy cơ của việc sử dụng các sản phẩm từ mật gấu. Người ta phát hiện mật gấu ở Trung Quốc có dính nước tiểu, phân, máu và mủ đang được xuất khẩu trái phép sang Việt Nam.


Tại Việt Nam, các chủ trại gấu hút mật với sự hỗ trợ của máy siêu âm, ống thông và bơm y tế. Các cá thể gấu bị gây mê, bị trói vào dây thừng và bị đâm liên tiếp vào bụng bằng kim dài 10cm không được tiệt trùng cho đến khi túi mật được tìm thấy. Mật được hút ra bằng ống thông và bơm. Quá trình thực hiện nay hoàn toàn mất vệ sinh và gây đau đớn cho các cá thể gấu.

Tuy nhiên, điều khiến người ta lo ngại hơn là chính vịêc làm này còn gây nguy hiểm cho chủ trại gấu và chính những người sử dụng mật gấu. Theo ông Tuấn, nhiều người dùng mật gấu vẫn không biết những nguy cơ của việc sử dụng các sản phẩm từ mật gấu. Người ta phát hiện mật gấu ở Trung Quốc có dính nước tiểu, phân, máu và mủ đang được xuất khẩu trái phép sang Việt Nam.

“Việc sử dụng con gấu không được khỏe mạnh sẽ có tác động tới sức khỏe của con người. Mật gấu cũng không phải là bài thuốc duy nhất bởi theo nghiên cứu thì có tới 54 loại thuốc đông y khác hoàn toàn có thể thay thế được” - bác sỹ Leanne Clark cho biết thêm.

Mặc dù nuôi gấu trang trại đã bị cấm từ năm 1992 tại Việt Nam, nhưng ngành công nghiệp này vẫn đang phổ biến và có khoảng 4 nghìn cá thể gấu vẫn đang bị nhốt trong các trang trại.
Những chú gấu đưa về Trung tâm, được sống trong môi trường vừa được chăm sóc nhưng vẫn gần gũi với thiên nhiên (Ảnh: LH)

Năm 2008, ở Quảng Ninh đã phát hiện trường hợp 80 con gấu được cho phép nuôi ở Quảng Ninh. Hiện 1 trong số 80 con gấu đó đã được cơ quan chức năng tịch thu và chuyển về trung tâm. “Chúng tôi có đầy đủ cơ sở hạ tầng để tiếp nhận 79 con gấu còn lại nhưng hiện nay các cơ quan chức năng chưa giải quyết được việc này. Chúng tôi cũng đã có ý kiến với Quốc hội Việt Nam từ tháng 5/2008 nhưng chưa thấy phản hồi” – ông Tuấn cho biết.

Bà Jill Robinson - sáng lập viên, đồng thời là Tổng Giám đốc của Tổ chức Động vật châu Á - khẳng định: Cộng đồng quốc tế chưa thực sự hài lòng khi các cơ quan chức năng Việt Nam chưa hoàn toàn thực hiện hết trách nhiệm trong việc đóng tất cả các trại nuôi gấu và chuyển các con gấu đó cho chúng tôi chăm sóc.

Nhưng có lẽ việc chưa chấm dứt được ngành công nghiệp nuôi gấu xuất phát chính từ nhu cầu mua mật gấu. Diễn viên Maggie Q - Đại sứ Chương trình Cứu hộ Gấu Việt Nam cho rằng: Việc chúng ta vẫn tiếp tục để xảy ra quá trình thương mại trong việc lấy mật gấu sẽ là không công bằng cho những tổ chức cứu hộ gấu.

Chúng ta cần tập trung nhiều hơn nữa để giảm cầu, đơn giản là không mua mật gấu nữa thì mới có thể ngăn chặn được ngành công nghiệp này phát triển. “Nó giống như việc chúng ta tẩy chay các nhà máy có sử dụng lao động trẻ em bằng cách không mua sản phẩm của nhà máy đó” - diễn viên Maggie Q nói.

Theo dantri.com.vn

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

U gan bao gồm u gan ác tính và u gan lành tính:

U gan ác tính hay còn được gọi là ung thư gan nguyên phát, nguyên nhân chủ yếu do nhiễm virus viêm gan B,C và nghiện rượu gây xơ gan dẫn tới ung thư gan (80%), các trường hợp còn lại là do bẩm sinh dạng fibrolamellar, là dạng ung thư gan phát triển chậm.

Để chẩn đoán ung thư gan nguyên phát phải dựa vào những triệu chứng lâm sàng bao gồm đau bụng vùng gan, yếu sức, vàng da và chán ăn, đôi khi bệnh nhân phát hiện có khối u lớn ở hạ sườn phải. Các phương tiện cận lâm sàng để chẩn đoán xác định ung thư gan bao gồm: siêu âm, chụp CT scanner, xét nghiệm máu, xét nghiệm Alpha Fetoprotein trong máu, các xét nghiệm chức năng gan… Đặc biệt, làm sinh thiết khối u để chẩn đoán giải phẫu bệnh.

U gan lành tính bao gồm u máu, u tuyến, u giang mai, u nang gan và bệnh thường được phát hiện một cách tình cờ như khi đi thăm khám siêu âm do một bệnh khác. Hầu hết u gan lành tính tiến triển chậm và hầu như không có biến chứng gì, do vậy về cơ bản không cần điều trị, chỉ can thiệp khi có biến chứng vỡ nang, xuất huyết trong u…

Nếu là u gan lành tính thì bạn có thể yên tâm. Nhưng cũng nên kiểm tra định kỳ sáu tháng một lần hoặc khi có dấu hiệu bất thường để có thể tầm soát được khối u.

 
Hồng Nhung

Nguồn tin: Theo Tuổi trẻ

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.

Bệnh viêm gan siêu vi là bệnh gan bị nhiễm siêu vi trùng. Có nhiều loại siêu vi trùng nên có nhiều loại viêm gan siêu vi khác nhau. Chúng có thể liên hệ với nhau (như viêm gan B và D) hay hoàn toàn không dính dáng đến nhau (như viêm gan A, B, C) mặc dù có vài triệu chứng trùng nhau. Trong phần dưới đây, chúng tôi sẽ đề cập đến loại viêm gan siêu vi thường gặp nhất đó là viêm gan siêu vi B.

1. Bệnh viêm gan siêu vi B (VGSV B) là gì? Vì sao nó lại là mối lo âu của người Việt? Tôi có thể làm gì để trút đi mối lo sợ này?

Viêm gan còn gọi là sưng gan là một tình trạng bệnh lý có thương tổn ở tế bào gan. Có nhiều nguyên nhân gây ra viêm gan như vi khuẩn, rượu, hóa chất, một vài loại thuốc và nhất là các loại siêu vi trong đó có con siêu vi gan B.

Trước đây người ta chỉ biết có 2 loại siêu vi tấn công tế bào gan, đó là siêu vi A và B. Sau này người ta phát hiện thêm nhiều chủng loại khác, vì vậy lại có thêm những bệnh VGSV C, VGSV D (hay Delta) và VGSV E, các bệnh này ít xảy ra cho người Việt.

Vậy VGSV B là bệnh gan do siêu vi gan B gây ra và sở dĩ người Việt chúng ta quan tâm nhiều đến bệnh này vì những lý do sau đây:

Mặc dù VGSV B có trên khắp thế giới nhưng lại có rất nhiều ở châu Phi, đông nam châu Á (trong đó có Việt Nam). Người ta ước tính khoảng 20% dân số trong vùng mang siêu vi B trong nhiều năm mà không hề có triệu chứng của bệnh (ở Mỹ con số này dưới 1%) Khác với bệnh VGSV A, VGSV B diễn tiến nặng hơn, kéo dài hơn, tỷ lệ tử vong cao hơn và đặc biệt hơn hết là một số bệnh nhân sau khi lành bệnh vẫn còn mang mầm bệnh trong người một thời gian dài, một số khác trở thành viêm gan mãn tính (kinh niên) kéo dài nhiều năm hay suốt đời, dẫn đến xơ gan hay ung thư gan. Hai loại bệnh nhân trên đều có thể truyền bệnh cho người khác. Trong khi VGSV A được lan truyền qua đường tiêu hóa do ăn uống phải đồ ăn thức uống nhiễm VGSV A thì VGSV B lây bệnh qua tiếp xúc với máu, các dịch cơ thể (nước miếng, tinh dịch, dịch âm đạo), qua đường tình dục, từ mẹ lây sang con trong lúc sanh, và người cùng nhà cũng có thể lây bệnh cho nhau (bằng cách nào chưa rõ).

 

Muốn trút đi mối lo âu trên, chỉ có một cách đi khám bác sĩ và thử máu để biết rõ tình trạng của mình đối với VGSV B. Sau khi thử máu, bác sĩ cho biết bạn đang ở trong trường hợp nào trong 4 trường hợp sau:

• Chưa hề bị siêu vi B xâm nhập (phải chích ngừa)

• Đã bị bệnh hay đã bị nhiễm SVB nhưng đã lành, và được miễn nhiễm đối với bệnh (không còn lo gì nữa)

• Mang mầm bệnh VGSV B, mặc dù không có triệu chứng (phải được theo dõi và có biện pháp ngăn ngừa không để lan truyền cho người khác)

• Bệnh đang tiến triển hay ở dạng VGSV B mãn tính (phải được theo dõi điều trị chặc chẽ)

Đối với tất cả trường hợp trên, bác sĩ đều có hướng giải quyết, hoặc chích ngừa, hoặc theo dõi điều trị và cho bạn những lời khuyên về ăn uống, về vệ sinh cá nhân và các biện pháp chống lây bệnh cho người khác. (Xin trả lời chi tiết hơn ở các câu hỏi sau).

2. Triệu chứng của bệnh VGSV B ra sao?

Vài tuần đến vài tháng (thời gian ủ bệnh) sau khi nhiễm VSB thì gan sưng lên (viêm gan) và có thể có những triệu chứng của bệnh gan như sau:

• Mệt mỏi

• Buồn nôn

• Chán ăn

• Đau bụng

• Ói Mửa

• Sốt nhẹ

• Phân có màu vàng lợt (bạc màu)

• Nước tiểu có màu đậm

• Vàng mắt, vàng da

• Ngứa ngáy, nổi mận (rash)

• Đau khớp xương

Bác sĩ chẩn đoán bệnh VGSV B qua các triệu chứng và thử máu bệnh nhân - Thử máu giúp xác định loại SV nào, và đánh giá mức độ trầm trọng của bệnh.

3. Bệnh VGSV B lây lan bằng cách nào?

Siêu vi VG được tìm thấy trong máu, tinh dịch, dịch âm đạo, và nước miếng của người bệnh (nước miến”g không phải là cách truyền bệnh đáng kể, trừ phi có máu trong đó).

Từ đó, bệnh lây truyền bằng nhiều cách:

Tiếp xúc với máu hay các sản phẩm của máu bị nhiễm khuẩn: Sự lan truyền có thể xảy ra do truyền máu (ở Mỹ, truyền bệnh qua tiếp máu rất hiếm thấy vì máu luôn luôn được xét nghiệm vi khuẩn trước khi sử dụng) do tiếp xúc với máu người bệnh (trường hợp các nhân viên y tế) bị máu văng vào miệng, vào mắt, qua chỗ trầy sướt trên da. Dùng chung dao cạo, bàn chải đánh răng và kim chích (người dùng ma túy) có thể lây bệnh VGSV B.

Siêu vi B có trong tinh dịch, dịch âm đạo, do đó bệnh có thể lan truyền qua tiếp xúc sinh lý. Khi mang thai, người mẹ bị bệnh có thể truyền siêu vi B cho con nhất là trong lúc sanh. Bệnh cũng có thể lây lan cho những người ở chung nhà với người bệnh, bằng cách nào người ta chưa rõ.

4. Có thuốc hay phương pháp nào để chữa được bệnh VGSV B hay không?

Cho đến nay chưa có thuốc đặc trị. Trong thời kỳ bộc phát của bệnh, nên nghỉ ngơi, ăn uống điều độ, bổ dưỡng và quân bình. Hỏi ý kiến bác sĩ về các thức ăn gây tác hại đến gan như rượu, dầu mỡ và một số thuốc men. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể cho các loại thuốc nhằm nâng cao thể trạng, điều hòa chức gan và làm giảm độc tính của tác nhân gây bệnh.

5. Người mang mầm bệnh VGSV B là gì? Nếu tôi là người mang mầm bệnh, tôi phải làm gì?

Khoảng 6-10% bệnh nhân bị VGSV B. siêu vi B vẫn ở lại trong cơ thể trong một thời gian dài, có khi suốt đời. Sáu tháng sau khi bắt đầu bị bệnh, nếu siêu vi B vẫn còn hiện diện trong máu bạn thì bạn được xem như là người mang mầm bệnh VGSV B nghĩa là bạn có thể truyền bệnh cho người khác mặc dù bên ngoài bạn có vẻ bình thường. Một số người bị nhiễm SV B mà không có triệu chứng, họ có thể trở thành người người mang mầm bệnh mà không hề hay biết.

Một số vùng trên thế giới như châu Á, Nam Phi, các đảo Thái Bình Dương, Alaska, một phần Trung Đông, lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ) có nhiều người mang mầm bệnh VGSV B.

Nếu chẳng may bạn là người mang mầm bệnh, bạn phải đi khám bác sĩ định kỳ để được theo dõi tình trạng của bạn. Bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn về cách ăn uống, sinh hoạt và điều trị thuốc men nếu thấy cần thiết. Ngày nào bạn còn là người mang mầm bệnh, bạn cần phải có những biện pháp phòng ngừa lây bệnh cho người xung quanh. Những người cùng nhà với bạn phải được thử máu và bác sĩ sẽ thẩm định xem họ có cần phải chích ngừa VGSV B không.

6. Nếu tôi mang thai mà lại bị VGSV B thì phải làm sao?

Nếu bạn là người mang mang mầm bệnh hay bị VGSV B vào 3 tháng cuối của thai kỳ, con bạn cần được chích ngừa từ khi mới sinh cho đến khi được 6 tháng. Việc chính ngừa này rất cần thiết và có hiệu quả tránh cho trẻ sơ sinh khỏi trở thành người mang mầm bệnh - Trẻ sơ sinh bị lây bệnh lúc mới ra đời thường không có bác sĩ nhưng có nhiều nguy cơ mang mầm bệnh VGSV B.

7. Nếu tôi bị VGSV B, tôi có thể nuôi con tôi bằng sữa mẹ không?

Nếu em bé được chích ngừa đúng cách như đã nói ở trên, thì việc cho con bú bằng sữa mẹ có thể có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, cũng nên thảo luận với bác sĩ của bạn về việc này.

8. Nếu tôi đang mắc bệnh VGSV B hay là người mang mầm bệnh, tôi phải làm gì để tránh lây cho người khác?

Sau đây là những biện pháp giúp bạn đề phòng sự lan truyền bệnh VGSV B:

• Đừng hiến máu, các bộ phận trong cơ thể.

• Không nên dùng chung các vật dụng như dao cạo, bàn chải răng, đồ dùng làm móng tay, móng chân.

• Nếu bị các vết thương hay vết cắt trên da, nên băng bó hay che kín lại.

• Đừng để máu của mình dính vào miệng, vào mắt, các vết thương trên da của người khác.

• Nếu bạn có khuynh hướng chảy máu nướu răng, bạn không nên dùng chung chén đũa, ly tách với người chung nhà.

• Gặp trường hợp máu của bạn vấy vào một chỗ nào đó, dùng thuốc tẩy (bleach) pha với nước với tỷ lệ 1/10 để rửa lại chỗ đó, rồi để cho khô.

• Giặt riêng quần áo bị dính máu với thuốc tẩy - Những đồ dính máu hoặc các dịch cơ thể (khăn giấy, băng vệ sinh) nên bỏ vào bao plastic, cột kín lại, trước khi bỏ vào thùng rác.

• Khi khám bệnh hoặc khám răng, bạn nên cho bác sĩ hay nha sĩ biết tình trạng nhiễm bệnh của bạn.

• Đối với người phối ngẫu hay người bạn tình, nên có những biện pháp phòng ngừa khi giao tiếp sinh lý (như dùng bao cao su).

• Khuyên những người ở chung nhà đi thử máu để biết tình trạng của họ đối với VGSV B để được chích ngừa hay điều trị. Nếu bạn sinh con, con bạn phải được chích ngừa VGSV B sau khi sanh (chích 3 lần: khi mới sanh, tháng thứ 2, và tháng thứ 6).

9. Có biện pháp nào phòng ngừa bệnh VGSV B không?

Đối với người chưa hề bị nhiễm SV B, cách phòng ngừa hữu hiệu nhất là chích ngừa. Thuốc chích ngừa hiện hành có hiệu quả trên 90%. Thuốc chích 3 lần, mũi thứ 2 và mũi thứ 3 cách mũi thứ nhất 1 tháng và 6 tháng. Ở Mỹ, thuốc ngừa viêm gan được khuyến cáo nên dùng cho tất cả trẻ sơ sinh. Những người sau đây có nhiều nguy cơ lây bệnh, nên chích ngừa VGSV B:

• Những người ở chung nhà với người bệnh hay người mang mầm bệnh.

• Nhân viên y tế

• Bệnh nhân suy thận phải làm thẩm phân máu (hemodialysis) thường xuyên.

• Người có giao tiếp sinh lý với người mang mầm bệnh

• Người đồng tính luyến ái

• Người chích ma túy.

Nếu bạn giao tiếp sinh lý hay tiếp xúc với máu của người bệnh VGSV B hay người mang mầm bệnh, bạn nên đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Bác sĩ sẽ thẩm định sự lây bệnh và quyết định có nên dùng HBI G (hepatitis B immune globulin) để ngừa bệnh hay không. Thuốc này có công hiệu khi được chích trong vòng 48 giờ sau khi tiếp xúc.)

 Hồng Nhung

 
Nguồn tin: Theo Suckhoe360.com

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.
Bản dịch này dựa trên tài liệu của Hepatitis Foundation International: The ABC’s of Hepatitis. (www.hepfi.org) * Thêm “Viêm gan siêu vi A không thuộc loại mãn tính” vào bản chính.
  Viêm gan siêu vi A Viêm gan siêu vi B Viêm gan siêu vi C
Định nghĩa Siêu vi khuẩn viêm gan A là một loại siêu vi khuẩn làm viêm lá gan. Loại siêu vi khuẩn này không đưa đến bệnh mãn tính. Siêu vi khuẩn viêm gan B là một loại siêu vi khuẩn gây viêm lá gan. Loại siêu vi khuẩn này có thể gây hư hại các tế bào gan, dẫn đến tình trạng bị chai (xơ cứng) gan và ung thư. Siêu vi khuẩn viêm gan C là một loại siêu vi khuẩn gây viêm lá gan. Loại siêu vi khuẩn này có thể gây hư hại các tế bào gan, dẫn đến tình trạng bị chai (xơ cứng) gan và ung thư.
Thời gian từ lúc bị nhiễm siêu vi khuẩn cho đến khi phát ra triệu chứng. 2 đến 7 tuần. Trung bình 4 tuần. 6 đến 23 tuần. Trung bình 17 tuần. 2 đến 25 tuần. Trung bình từ 7 đến 9 tuần.
Lây bằng cáchnào?

Lây lan qua đường hậu môn hoặc đường miệng (quan hệ tình dục qua đường miệng/hậu môn) .
♦ lây lan qua việc tiếp xúc gần gũi giữa người với người.
♦ lây lan qua việc ăn thức ăn và uống nước uống bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan A.
♦ Để tay lên miệng sau khi bàn tay đó tiếp xúc với phân như khi thay tả.

♦ Lây lan bằng cách:
♦ tiếp xúc với máu, tinh dịch, hoặc chất dịch tiết ra từ âm đạo bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan B.
♦ dùng những kim tiêm bị nhiễm siêu vi khuẩn bao gồm những dụng cụ dùng để xăm hình hay xỏ cơ thể.
♦ người mẹ bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan B lây sang cho con mới sanh của mình.
♦ bị người ta cắn.
♦ sinh hoạt tình dục.

Lây lan bằng cách:
♦ tiếp xúc với máu bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan C.
♦ dùng những kim tiêm qua tĩnh mạch, dao cạo, và những dụng cụ dùng để xăm hình hay những dụng cụ dùng để xỏ cơ thể bị nhiễm siêu vi khuẩn.
♦ người mẹ bị nhiễm siêu vi khuẩn viêm gan C lây sang cho con mới sanh của mình.
♦ KHÔNG dễ dàng lây lan qua việc quan hệ tình dục.

 

Triệu chứng ♦ Có thể không có triệu chứng nào cả.
♦ Một số người khác có thể bị phân lỏng, nước tiểu đậm màu, mệt mỏi, bị sốt, buồn nôn, ói mửa, đau vùng bụng và vàng da.

♦ Có thể không có triệu chứng nào cả.
♦ Một vài người có triệu chứng giống như cúm nhẹ, phân lỏng, nước tiểu đậm màu, mệt mỏi, bị sốt và vàng da.

 

 

Giống các triệu chứng của viêm gan siêu vi B.

 

 

 

  Viêm gan siêu vi A Viêm gan siêu vi B Viêm gan siêu vi C
Chữa trị cho bệnh mãn tính Không phù hợp (viêm gan siêu vi A không thuộc loại mãn tính.)* Interferon và Lamivudine. Sự thành công khác nhau. Interferon và sự kết hợp giữa các phương pháp trị liệu. Sự thành công khác nhau.
Thuốc chủng ngừa

Chích 2 mũi thuốc cho bất cứ ai từ 3 tuổi trở lên.

Có thể chích 3 mũi thuốc cho mọi người ở mọi lứa tuổi. Không có thuốc tiêm chủng.
Những ai có nguy cơ bị mắc bệnh?

♦ Quan hệ tình dục hay tiếp xúc giữa những người trong gia đình với người bị nhiễm bệnh.
♦ Sống trong môi trường có nhiều người bị nhiễm siêu vi khuẩn A.
♦ Những người đi du lịch đến các nước đang phát triển.
♦ Những người có quan hệ tình dục bằng đường miệng hay hậu môn. Những người chích ma túy.

♦ Trẻ nhỏ được sanh ra từ các bà mẹ bị nhiễm bệnh.
♦ Những ai có quan hệ tình dục với người bị nhiễm bệnh hay có nhiều bạn tình.
♦ Những người chích ma túy.
♦ Những người làm công tác cấp cứu.
♦ Nhân viên y tế.
♦ Những người có quan hệ tình dục qua đường miệng hoặc hậu môn.
♦ Những bệnh nhân được lọc máu.

♦ Những người đã được truyền máu trước năm 1992.
♦ Nhân viên y tế.
♦ Những người chích ma túy.
♦ Những bệnh nhân được lọc máu.
♦ Trẻ nhỏ được sanh ra từ các bà mẹ bị nhiễm bệnh.
♦ Những ai có nhiều bạn tình.

 

Phòng bệnh ♦ Chích ngừa với Globulin trong vòng 2 tuần tiếp xúc với siêu vi khuẩn A.
♦ Chính ngừa.
♦ Rửa tay với xà bông và nước sau khi đi vệ sinh xong.
♦ Dùng thuốc tẩy gia dụng (household bleach) (pha 1 phần thuốc tẩy với 10 phần nước) để lau chùi những chỗ bị nhiễm khuẩn với phân, ví dụ như chỗ thay tả cho em bé.
♦ Quan hệ tình dục một cách an toàn.

♦ Chích ngừa với Globulin trong vòng 2 tuần tiếp xúc với siêu vi khuẩn B.
♦ Chích ngừa giúp bảo vệ khỏi bị bệnh này trong 18 năm.
♦ Lau chùi máu bị nhiễm bệnh với thuốc tẩy gia dụng (household bleach) và mang bao tay bảo vệ.
♦ Đừng dùng chung dao cạo, bàn chải đánh răng, hay kim tiêm.
♦ Quan hệ tình dục một cách an toàn.

 

♦ Lau chùi chỗ máu bị đổ với thuốc tẩy gia dụng (household bleach).
♦ Mang bao tay khi đụng vào máu.
♦ Đừng dùng chung dao cạo, bàn chải đánh răng, hay kim tiêm với bất cứ ai.
♦ Quan hệ tình dục một cách an toàn.

 

 

 

 

 

Tổng hợp : Đức Mạnh

(Dân trí) - Khi mật gấu đang ở “đỉnh cao” về giá, những chú gấu được nâng niu, chăm bẵm như ông hoàng. Thời hoàng kim qua đi, mật gấu rớt giá, cũng là lúc gấu bị đày đọa, xẻ thịt không thương tiếc..
Vì gấu được nuôi lén lút nên không thể thống kê chính xác ở Nghệ An có bao nhiêu con gấu bị nuôi nhốt, nhưng chắc chắn con số không dưới 200, khiến Nghệ An trở thành một trong những địa phương có lượng gấu bị nuôi nhốt trái phép nhiều nhất trong cả nước.
 
Thời hoàng kim...
 
Không rõ công dụng thật của mật gấu như­ thế nào, như­ng vào những năm 2002, trong một cuộc nhậu mà có ly rư­ợu ngâm mật gấu thì sang và quý lắm. Những ông bà già bong gân, nhức xương cốt mà được biếu vài ml mật gấu thì sư­ớng biết nhường nào.

Cũng không rõ cái thú xài mật gấu xuất xứ từ đâu như­ng sức lan toả của nó phải nói là chóng mặt. Xứ Nghệ thời đó được mệnh danh là xứ sở của gấu. Những năm 1995, Nghệ An cũng từng được mệnh danh là xứ sở của hươu. Lúc đó, một con hươu cái có giá từ 60-80 triệu đồng, thậm chí lên đến 100 triệu đồng; nhưng không lâu sau đó, hươu nhanh chóng mất giá, trở thành những miếng mồi ngon tại các nhà hàng, quán nhậu.

Số phận loài gấu ở Nghệ An cũng vậy !

Ông K ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) vốn được mệnh danh là “cha của các đại gia”. Ông từng sang tận Lào mua chú gấu ngựa con nặng 30kg về nuôi tại nhà, chỉ để hút mật tẩm bổ. Không chỉ ông K, nhiều đại gia đất Nghệ khác cũng thi nhau nuôi nhốt gấu trong nhà, có nhà nuôi hẳn 3, 4 con, như­ vư­ờn bách thú.

Khi gấu được khoảng 100kg là thời điểm có thể hút mật. Con gấu sẽ bị đánh thuốc mê, dùng máy siêu âm để xác định vị trí túi mật rồi dùng kim tiêm dài khoảng 10cm hút mật ra. Mỗi lần hút đư­ợc vài chục ml mật, tuỳ thuộc vào trọng lư­ợng của gấu.

Thời gian đó, mật gấu được coi là “hàng chất lượng cao”, 1ml đã có giá 250 - 300 ngàn đồng. Theo đó, mỗi lần hút mật, một chú gấu sẽ cho chủ nuôi khoảng 5 - 6 triệu đồng. Lợi nhuận quá cao nên người ta đổ xô nuôi gấu lấy mật. Cũng vì khả năng “in tiền” đó mà gấu được “nâng nh­ư nâng trứng”, được chăm sóc, bảo vệ như ông hoàng, được tính toán chu kỳ hút mật để đảm bảo sức khỏe.
 

Một chú gấu đang bị gây mê để hút mật. Bên cạnh là chiếc máy siêu âm để dò vị trí túi mật (Ảnh tư liệu)
 
Hai chủng loại gấu đư­ợc nuôi ở Việt Nam là gấu chó và gấu ngựa đều thuộc loại 1B (cực kỳ quý hiếm), cần đư­ợc bảo tồn, cấm nuôi nhốt, trừ vư­ờn bách thú và đoàn xiếc. Như­ng với khoản siêu lợi nhuận từ gấu mang lại, gấu vẫn bị săn lùng ráo riết.

Để cứu loài gấu, Bộ NN&PTNT đã quy định gấu nuôi nhốt từ tr­ước tháng 3/2005 phải đư­ợc gắn chíp điện tử và kể từ sau 3/2005, hộ nào nuôi gấu sẽ bị tịch thu và truy cứu trách nhiệm hình sự. Như­ng xem ra quy định này không có tác dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Việc nuôi nhốt gấu trái phép, không gắn chíp vẫn diễn ra công khai. Và khi mật gấu đã bão hoà, kém chất lư­ợng, gấu bị giết thịt một cách thảm hại.

“Trảm” gấu vô tội vạ

Việc nuôi gấu đơn giản, chi phí thấp, lợi nhuận cao nên người dân Nghệ An ồ ạt nuôi gấu. Nghệ An cũng là tỉnh có diện tích rừng lớn giáp Lào nên nguồn gấu con không thiếu. Tuy nhiên khi gấu nuôi ngày càng nhiều, mật gấu ngày càng rẻ, thì các chủ nuôi bắt đầu “phá rào” về chu kỳ và quy trình lấy mật.

Nếu như tr­ước đây gấu nuôi sau 3 tháng lấy mật một lần với số lư­ợng nhất định thì nay các chủ gấu lấy vô tội vạ, có khi 2 tháng hoặc hơn 1 tháng lại hút mật gấu một lần; thậm chí có chủ gấu còn bơm n­ước vào mật gấu rồi rút ra. Tr­ước đây họ dùng máy siêu âm dò tìm vị trí túi mật rồi mới chọc kim hút thì nay để giảm trừ chi phí, chủ gấu gây mê gấu rồi dùng kim dài khoảng 10cm không khử trùng chọc tứ phía để tìm mật. Chính vì thế không ít ngư­ời dùng mua phải mật gấu nhiễm khuẩn mà không biết. Đã không ít lượng mật gấu bán ra thị trư­ờng bị cơ quan chức năng phát hiện thiếu vệ sinh như­ nhiễm mủ, phân, máu...
 
Gấu bị giết thịt, tay chân gấu được bán để ngâm rượu.

Tr­ước đây, gấu đư­ợc chăm sóc chu đáo nh­ư ăn t­ươi, tắm rửa hàng ngày, vệ sinh chuồng trại… Nhưng khi mật rớt giá, gấu bị đày đoạ, tàn sát không thương tiếc. Phần lớn những con gấu bị nuôi nhốt trong lồng chật chội, ăn uống nghèo nàn, không được tiếp cận nguồn nư­ớc nên ảnh h­ưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ dẫn tới suy dinh dư­ỡng; khớp, cơ bị teo; thị lực giảm; răng nanh bị bẻ gãy để không cắn phá…

Như­ng thảm nhất vẫn là những con gấu già không còn khả năng cho mật hay mật kém bị giết thịt. Lư­ợng gấu nuôi bị bán để giết thịt nhiều tới mức có những nhà hàng chuyên kinh doanh thịt gấu phục vụ khách.

Ở huyện miền núi Con Cuông, không mấy ai không biết đến nhà hàng T.L chuyên kinh doanh các sản phẩm từ gấu. Một đĩa thịt gấu hấp, xào, nấu giả cầy… có giá khoảng 50.000 đồng, còn rẻ hơn thịt dê; hay một bộ tay gấu đư­ợc bán giá 1 - 1,5 triệu đồng cho người mua về ngâm rượu… Mỗi tháng nhà hàng này tiêu diệt gọn từ 5 đến 7 con gấu, chủ yếu là gấu nuôi.

Trong vài năm gần đây, l­ượng gấu nuôi ở Nghệ An giảm nhanh. Với tình trạng này chỉ một hai năm nữa lượng gấu nuôi sẽ không còn. Thời hoàng kim của gấu, gấu con bị bắt triệt để; giờ gấu nuôi trư­ởng thành cũng bị giết dần. Chẳng mấy chốc trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ không còn một cá thể gấu.

Cách đây không lâu, tại Vườn Quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc) đã ra mắt trung tâm cứu hộ gấu và công bố ra mắt khu bán hoang dã đầu tiên dành cho gấu. Trung tâm sẽ đ­ưa 200 con gấu nuôi nhốt về phục hồi và cho hoà nhập vào thiên nhiên. Tỉnh Nghệ An không có kinh phí để thành lập những trung tâm như­ thế như­ng việc quản lý không cho giết mổ gấu bừa bãi không phải là không làm đư­ợc. Chỉ cần một biện pháp mạnh tay từ các cấp chính quyền, vì sự an toàn của một loài thú quý hiếm.
Duy - Hùng

Nay đã có URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết tương đương 1cc mật gấu ngựa để bảo vệ tế bào gan và cải thiện tình trạng gan bị tổn thương.
DaewoongURSA-S hiện đang có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Chi tiết thông tin về sản phẩm, vui lòng liên hệ hotline: * Hồ Chí Minh: 08.22268734 * Hà Nội: 04.2216 2259 * Đà Nẵng: 0511. 2460602

Chỉ định:

1. Bảo vệ và phục hồi tế bào gan trước tác hại của Bia rượu:

- UDCA có tác dụng rất tốt trong việc thúc đẩy nhanh quá trình đào thải các độc chất sinh ra trong quá trình chuyển hoá rượu tại gan, qua đó giảm tình trạng mệt mỏi, giảm đau đầu sau khi uống rượu bia.
- UDCA giúp giảm mạnh tình trạng viêm gan do rượu, giảm sự huỷ hoại tế bào gan do rượu, giảm men gan trong gan nhiễm mỡ do rượu.

2. Tăng cường sức khoẻ, chống mệt mỏi, uể oải, giảm stress.

3. Điều trị chứng khó tiêu, chán ăn, mệt mỏi do những rối loạn gan mật.

4. Điều hoà cholesterol máu: giảm LDL là một cholesterol có hại, tăng HDL là một cholesterol có lợi.

5. Cải thiện chức năng gan trong bệnh gan mãn tính: Giảm men gan trong gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, viêm gan do béo phì, vàng da, người hay bị mụn nhọt, dị ứng ...

Giá niêm yết: 250,000vnđ/hộp 60viên
 DaewoongURSA-S hiện đang có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Chi tiết thông tin về sản phẩm, vui lòng liên hệ hotline: * Hồ Chí Minh: 08.3526 5751 * Hà Nội: 04.2216 2259 * Đà Nẵng: 0511. 2460602


Chỉ định:
1. Bảo vệ và phục hồi tế bào gan trước tác hại của Bia rượu:

- UDCA có tác dụng rất tốt trong việc thúc đẩy nhanh quá trình đào thải các độc chất sinh ra trong quá trình chuyển hoá rượu tại gan, qua đó giảm tình trạng mệt mỏi, giảm đau đầu sau khi uống rượu bia.
- UDCA giúp giảm mạnh tình trạng viêm gan do rượu, giảm sự huỷ hoại tế bào gan do rượu, giảm men gan trong gan nhiễm mỡ do rượu.

2. Tăng cường sức khoẻ, chống mệt mỏi, uể oải, giảm stress.

3. Điều trị chứng khó tiêu, chán ăn, mệt mỏi do những rối loạn gan mật.

4. Điều hoà cholesterol máu: giảm LDL là một cholesterol có hại, tăng HDL là một cholesterol có lợi.

5. Cải thiện chức năng gan trong bệnh gan mãn tính: Giảm men gan trong gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, viêm gan do béo phì, vàng da, người hay bị mụn nhọt, dị ứng ..

Giá niêm yết: 250,000vnđ/hộp 60viên

Trong cơ thể, gan là một bộ phận làm việc không biết mệt mỏi, nó là “nhà máy” hóa học của cơ thể. Ngoài chức năng hoạt hóa vitamin, cân bằng hormon, gan còn có tác dụng xử lý hóa học đối với các chất như đường, mỡ và protein, giúp cho các cơ quan trong cơ thể dễ dàng hấp thụ.

Một khi cơ năng của gan bị suy thoái thì các cơ quan khác trong cơ thể sẽ phải chịu ảnh hưởng xấu liên đới, gây ra các loại bệnh khác nhau. Do đó, để duy trì sức khỏe, chúng ta đặc biệt chú ý tới cơ năng của gan.

Tại sao phải bảo vệ gan?

Thông thường khi gan mắc bệnh, nó không có những triệu chứng gì rõ ràng. Như vậy có nghĩa là, các bệnh về gan nếu không quá nghiêm trọng thì thường không có dấu hiệu gì đặc biệt.

Chúng ta cần biết rằng, bản thân gan không có thần kinh gây đau đớn, mà chỉ có ở lớp biểu bì. Khi bên trong gan mắc bệnh, nếu không tiếp xúc với lớp biểu bì thì chúng ta sẽ không cảm thấy đau đớn.

Hơn nữa, gan là cơ quan có tính chịu đựng, chỉ cần còn 30% khả năng làm việc thì cơ thể của chúng ta khó cảm nhận được sự đau đớn, chỉ khi gan bị mắc bệnh, cơ năng của nó có biểu hiện bị suy thoái thì chúng ta mới nhận thấy được triệu chứng đó.

Gan còn là một cơ quan nội tạng cứng và giữa gan với các cơ quan khác trong cơ thể có một mối quan hệ chặt chẽ, cho nên gan thường phải chịu những ảnh hưởng liên đới của các bộ phận khác, ví dụ cơ thể bị bệnh truyền nhiễm, bệnh đái tháo đường hoặc khi mang thai thì đều có thể ảnh hưởng gián tiếp đến cơ năng của gan. Hiểu được tầm quan trọng của gan, bạn phải đặc biệt chú ý chăm sóc và bảo vệ gan thật tốt.

Hãy để cơ thể bạn có thời gian nghỉ ngơi:

nghingoi.jpg
Khi ăn xong cơ thể bạn rất cần được nghỉ ngơi

Ăn cơm xong có thời gian nghỉ ngơi là cách tốt nhất giúp gan khỏe mạnh, sau khi ăn nếu nghỉ ngơi yên tĩnh 30 phút sẽ giúp cơ thể hấp thụ được phần lớn các chất dinh dưỡng. Những người có chức năng gan không tốt nên đi ngủ trước 23 giờ và không nên thức quá 1 giờ đêm. Một số người vì công việc mà luôn phải làm việc vào ban đêm, những người này có khả năng mắc bệnh gan khá cao, ngoài ra hệ thống miễn dịch cũng sẽ bị giảm sút.

Bạn cần chú ý giữ cân bằng dinh dưỡng:

Bạn hãy rèn luyện cho mình một thói quen ăn uống đúng giờ giấc và định lượng. Nên ăn nhiều rau xanh và các loại hoa quả để đại tiện được dễ dàng, giúp cho gan giảm bớt gánh nặng. Nếu bị bệnh gan bạn cần ăn uống nhiều chất bổ dưỡng cho gan đó là lượng protein cao, lượng mỡ thấp, lượng đường đầy đủ, vitamin phong phú để cung cấp thêm protein và vitamin cho cơ thể.

Hãy bỏ thuốc lá:

Hút thuốc lá rất có hại cho cơ thể, đặc biệt là có hại cho gan. Sau khi hút thuốc, nồng độ nicotin trong máu sẽ tăng cao, do đó gan sẽ phải làm việc nhiều hơn để giải độc cho các chất nicotin này.

Cần phải cai rượu:

uongr.jpg
Uống quá nhiều rượu rất dễ gây nên các bệnh về gan

Đối với các lá gan bình thường, thì uống một chút rượu không những không có hại mà còn có lợi, nhưng nếu uống quá nhiều rượu thì sẽ rất có hại. Còn những người đã bị bệnh gan thì uống rượu không khác gì hành động tự sát, một khi gan đã có bệnh thì không nên uống một chút rượu nào cả.

Không nên uống thuốc bừa bãi:

Đối với một số thuốc mà tác dụng phụ của nó ảnh hưởng đến gan, nếu mắc bệnh gan thì cơ thể bị sốt, ngoài ra toàn thân bị phát ban, người bị phù, ngứa ngáy, bên cạnh đó người bệnh sẽ có cảm giác chán ăn, khó chịu buồn nôn, trướng bụng. Người bị bệnh gan cần đặc biệt chú ý khi uống các loại thuốc tránh thai và thuốc cảm cúm.

Không nên tức giận:

“Nộ tắc thương can”, câu đó có nghĩa là khi tức giận sẽ rất có hại cho gan. Theo các nhà miễn dịch học, thì khi tức giận hệ miễn dịch của cơ thể sẽ hoạt động kém đi và làm tổn thương đến gan. Do vậy những người bị mắc bệnh gan nhất thiết không nên nóng giận nhiều.

Cần kiêng khem trong ăn uống:

Khi lá gan của bạn đã có bệnh, nên tránh ăn những thực phẩm không còn tươi, bao gồm các loại thực phẩm lên men, các loại thực phẩm có chất bảo quản, phẩm màu và các phụ gia, các loại thức ăn hun khói... các gia vị có chất kích thích, một số loại hoa quả như mãng cầu, vải, long nhãn... cũng không nên ăn nhiều.

Cần chủ động phòng chống viêm gan:

gan.jpg
Để bảo vệ lá gan bạn nên đi kiểm tra sức khỏe định kỳ

Tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan là một trong những cách tích cực nhất để phòng bệnh gan. Hiện nay tại các cơ sở y tế phòng dịch của huyện, thị xã, thành phố đều được cung cấp đầy đủ các vaccin phòng bệnh viêm gan, chúng ta nên chủ động đến để được tiêm phòng đầy đủ.

Một điều quan trọng khác là cần chú ý tránh các nguồn lây nhiễm ví dụ như cần tránh hoặc hết sức cẩn thận khi truyền máu, tiêm, châm cứu, xăm, dùng chung bàn chải, dùng chung dao cạo râu... cần sử dụng bơm tiêm một lần, dùng kim châm cứu riêng...

Cần duy trì đều đặn kiểm tra gan định kỳ:

Nếu bình thường thì 6 tháng - 1 năm bạn nên đi làm các xét nghiệm máu để kiểm tra các chỉ số gan. Còn nếu bạn không may mắc bệnh gan thì cần phải tuyệt đối tuân thủ lời dặn của bác sĩ, kiên trì uống thuốc, không nên vì bệnh tình tiến triển chậm mà sốt ruột đổi bác sĩ, đổi thầy thuốc điều trị, điều đó chỉ càng khiến việc điều trị bệnh gan của bạn khó khăn, gian nan hơn.

Theo BS. Thu Hương

Nguồn: TinTucOnline.com


Gan giữ một vai trò vô cùng to lớn và cực kỳ quan trọng trong cơ thể. Bảo vệ gan là điều rất cần thiết, cũng chính là cách  bảo vệ sức khỏe cho bản thân. Những lưu ý dưới đây sẽ giúp bạn có lá gan luôn khỏe mạnh.

Cảnh báo

Gan có nhiệm vụ chuyên thải lọc các loại độc tố trong cơ thể. Nó cũng hỗ trợ hoạt động của túi mật, ngoài ra trong gan còn chứa các tế bào có khả năng miễn dịch - chống lại những vi khuẩn xâm nhập gây hại cơ thể con người.

Theo kết quả điều tra tại Hàn Quốc, số ca tử vong do mắc phải chứng bệnh về gan chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các ca tử vong.

Bệnh ung thư gan phần lớn thường “gõ cửa” các quý ông. Cũng theo số liệu thống kê tại Hàn Quốc, tỉ lệ nam giới mắc ung thư gan tại nước này nhiều gấp 7,9 lần so với nữ giới.

Nguyên nhân chính được nhận định là do các đấng mày râu có thói quen xấu thường xuyên sử dụng nhiều chất kích thích có chứa nồng độ cồn cao hơn so với nữ giới. Thêm vào đó, đa số đấng mày râu luôn “tuân thủ” một chế độ ăn uống kém khoa học và thiếu sự cân bằng dinh dưỡng.

Ngoài ra, các chuyên gia cũng khuyến cáo bạn rằng những căn bệnh liên quan đến gan thường ít có những biểu hiện sớm và rõ ràng, mà chỉ khi bệnh đã trở nên trầm trọng mới có những biểu hiện ra bên ngoài. Chính vì thế nếu bạn thấy xuất hiện những dấu hiệu bất thường về gan, hãy nhanh chóng đến các bác sĩ để được thăm khám.

Tuy nhiên, ngay từ bây giờ bạn hãy tuân thủ theo những nguyên tắc dưới đây để lá gan luôn đảm trách được vai trò vốn có và loại trừ nguy cơ mắc các loại bệnh.

Bảo vệ gan

- Thận trọng với các loại thuốc hỗ trợ chức năng gan - nên để Bác sỹ tư vấn

Nhiều người thường cho rằng bổ sung đa dạng các loại thuốc hay dưỡng chất có lợi cho gan từ những thực phẩm thường ngày sẽ có tác dụng bảo vệ, giúp lá gan của bạn luôn khỏe mạnh. Tuy nhiên, các bác sĩ cảnh báo trong nhiều trường hợp những thói quen này gây nên những mặt trái, đặc biệt đối với những người đã mắc chứng viêm gan.

- Hạn chế sử dụng đồ uống có cồn và caffein

Tất cả đồ uống có cồn đều được xem là "kẻ thù" của gan. Uống rượu nhiều và thường xuyên chính là nguyên nhân gây suy giảm chức năng gan, gây cho gan phải chịu những áp lực lớn. Nguy hiểm hơn, có thể gây nên chứng viêm gan, xơ gan và ung thư gan.

Thay vì sử dụng các loại đồ uống có chứa nhiều cồn hay caffein, bạn nên sử dụng các loại trà thảo dược như những loại đồ uống thông thường.

Một nghiên cứu mới đây đã chỉ ra chất tanin và các amino axit được tìm thấy trong trà xanh có hiệu quả cao trong việc bảo vệ gan.

- Áp dụng chế độ ăn uống cân bằng và tránh ăn quá no

Chế độ ăn uống cân bằng, khoa học không chỉ có lợi cho sức khỏe nói chung mà còn đem lại những hữu ích cho gan nói riêng. Một chế độ ăn uống được gọi là cân bằng phải bao gồm việc đa dạng hoá các loại rau xanh, trái cây, hạn chế các chất béo gây hại, giảm thiểu chất ngọt.

Sở dĩ bạn nên tăng cường rau xanh và trái cây vào chế độ ăn uống của mình là bởi chúng có chứa một lượng lớn chất chống oxy hóa, chất xơ có khả năng loại trừ các độc tố trong cơ thể, giảm nguy cơ phá hủy các tế bào (trong đó bao gồm cả các tế bào gan).

Khi lựa chọn rau củ quả, bạn nên ưu tiên lựa chọn các loại có màu xanh và đỏ, vì các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng đó là những loại rau quả có khả năng loại trừ độc tố trong cơ thể mạnh hơn các loại khác.

Các chuyên gia cũng khuyên bạn, không nên ăn quá nhiều các đồ ăn nhanh và những món rán.

Thêm vào đó, khi ăn bạn chỉ nên ăn lấp đầy khoảng 80% bụng rỗng của bạn, không nên ăn quá no. Ăn no sẽ gây cho bạn cảm giác khó chịu và tăng áp lực cho gan trong quá trình tiêu hóa thức ăn.

Trong chế độ ăn uống bạn cũng cần lưu ý nên cắt giảm hay nên tránh thu nạp quá nhiều hàm lượng protein có nguồn gốc từ động vật, đặc biệt những bệnh nhân mắc viêm gan B càng cần phải lưu ý điều này.

- Uống đủ lượng nước

Gan cần rất nhiều nước để thực hiện quá trình đào thải. Thiếu nước, các loại độc tố gây hại sẽ không được bài tiết và đào thải ra bên ngoài cơ thể mà ngược lại chúng sẽ được tích tụ trong gan, lâu dần sẽ gây nên những ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng gan.

Vì thế, bạn đừng quên uống đủ lượng nước cơ thể cần là 6-8 cốc mỗi ngày.

- Không giảm cân "siêu tốc"

Giảm cân sẽ giúp bạn lấy lại phom chuẩn và có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, khi giảm cân bạn cũng cần phải tuân thủ theo đúng quy trình của nó.

Trái lại việc giảm cân đột ngột, ví như giảm quá 1kg trọng lượng cơ thể trong một lại rất hại cho gan, đi ngược lại ích lợi của việc giảm cân.

- Luyện tập đều đặn

Luyện tập là liều thuốc quý đối với sức khỏe mỗi chúng ta. Nhưng bạn cũng cần hiểu tập luyện chỉ đem lại những ích lợi cho sức khỏe nếu biết duy trì thói quen luyện tập đều đặn.

Nếu việc tập luyện bị đứt quãng, bạn sẽ dễ phải đối mặt với những hệ lụy của nó, đặc biệt khiến bạn tăng nguy cơ béo phì.

KHỔNG THU HÀ tổng hợp
Theo: Tuổi Trẻ Online

DaewoongURSA-S hiện đang có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Chi tiết thông tin về sản phẩm, vui lòng liên hệ hotline: * Hồ Chí Minh: 08.3526 5751 * Hà Nội: 04.2216 2259 * Đà Nẵng: 0511. 2460602
Chỉ định:
1. Bảo vệ và phục hồi tế bào gan trước tác hại của Bia rượu:

- UDCA có tác dụng rất tốt trong việc thúc đẩy nhanh quá trình đào thải các độc chất sinh ra trong quá trình chuyển hoá rượu tại gan, qua đó giảm tình trạng mệt mỏi, giảm đau đầu sau khi uống rượu bia.
- UDCA giúp giảm mạnh tình trạng viêm gan do rượu, giảm sự huỷ hoại tế bào gan do rượu, giảm men gan trong gan nhiễm mỡ do rượu.

2. Tăng cường sức khoẻ, chống mệt mỏi, uể oải, giảm stress.

3. Điều trị chứng khó tiêu, chán ăn, mệt mỏi do những rối loạn gan mật.

4. Điều hoà cholesterol máu: giảm LDL là một cholesterol có hại, tăng HDL là một cholesterol có lợi.

5. Cải thiện chức năng gan trong bệnh gan mãn tính: Giảm men gan trong gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, viêm gan do béo phì, vàng da, người hay bị mụn nhọt, dị ứng ..
Trên thế giới có khoảng 2 tỷ người bị nhiễm trùng và khoảng 400 triệu người đang bị bệnh viêm gan B kinh niên, trong đó sẽ có khoảng 250 ngàn người thiệt mạng mỗi năm.
BỆNH VIÊM GAN B

VÀI YẾU TỐ & QUAN ÐIỂM CHÍNH

    * Trên thế giới có khoảng 2 tỷ người bị nhiễm trùng và khoảng 400 triệu người đang bị bệnh viêm gan B kinh niên, trong đó sẽ có khoảng 250 ngàn người thiệt mạng mỗi năm.
    * Một trong 6 đến 7 người Việt Nam đang bị nhiễm vi khuẩn viêm gan B. Một trong 20 công dân Hoa Kỳ bị nhiễm vi khuẩn viêm gan B.
    * Vi khuẩn viêm gan B là nguyên nhân thường xuyên nhất đưa đến chai gan và ung thư gan trong cộng đồng người Việt.
    * Hơn 80% phụ nữ Á Châu trong thời kỳ sanh đẻ đã và đang bị nhiễm trùng với vi khuẩn viêm gan B, và vì thế có thể lây bệnh của mình cho bé sơ sinh một cách dễ dàng.
    * Bệnh cũng lây qua máu và kim chích cũng như vấn đề sinh lý.
    * Ðã có thuốc chích ngừa viêm gan B rất hiệu nghiệm.
    * Bệnh có thể chữa trị bằng thuốc uống hoặc thuốc chích dưới da.
    * Bệnh sẽ bị nặng hơn, nếu cùng một lúc bệnh nhân bị nhiễm trùng bởi nhiều loại vi khuẩn viêm gan khác nhau.
    * Rượu, bia và một số thuốc men trong đó có dược thảo có thể làm gan chai lẹ hơn.

Nếu không chữa đúng cách và kịp thời, bệnh viêm gan B kinh niên có thể đưa đến chai gan hoặc/và ung thư gan.
Viêm gan B là một trong những nguyên nhân chính gây ra viêm gan cấp tính (acute hepatitis), kinh niên (chronic active hepatitis), chai gan (liver cirrhosis) và ung thư gan (liver cancer). Tuy thuốc chích ngừa viêm gan B đã có từ hơn 20 năm qua, bệnh vẫn tiếp tục lan tràn khắp nơi trên thế giới, với tỷ lệ từ 0.1% đến 25% tổng số dân chúng tùy theo địa danh. Hiện nay, trên toàn cầu có ít nhất 2 tỷ người (nghĩa là một trong 3 người) đang mang trên người vi khuẩn viêm gan B và trong số đó có khoảng 400 triệu người đang bị viêm gan B kinh niên và trong số này sẽ có ít nhất 250 ngàn người thiệt mạng mỗi năm.

Việt Nam là một trong những nước với tỷ lệ viêm gan B cao nhất thế giới. Dựa theo thống kê đăng tải trên Current Probl. Cancer 6, một trong 4 người Việt đang nhiễm vi khuẩn viêm gan B (nghĩa là khoảng 25% tổng số dân chúng có thể lây bệnh của mình cho người khác, mà không hề hay biết). Theo một trong những thống kê mới nhất thì tỷ lệ người mang bệnh là khoảng 17%. Tuy trong những năm vừa qua, khi chích ngừa bệnh viêm gan B tại Việt Nam được ứng dụng một cách quy mô hơn, con số bệnh nhân bị bệnh viêm gan B, chỉ thuyên giảm một cách chậm chạp. Dựa theo một nghiên cứu của Hipgrave đăng trên tờ The American Journal of Tropical Medicine and Hygiene (2003), trong lúc thử nghiệm khoảng 1350 dân chúng sống trong địa hạt Thanh Hóa, có khoảng 12.5% bé sơ sinh (từ 9 đến 18 tháng), 18.4% trẻ em (từ 4 đến 6 tuổi), 20.5% thanh niên, thiếu nữ (từ 14 đến 16 tuổi) và 18.8% người lớn (từ 25 đến 40 tuổi) đang bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn viêm gan B. Cũng dựa theo tài liệu này, sẽ có khoảng 15-25% bệnh nhân viêm gan B kinh niên, nghĩa là khoảng 3.5 triệu người đang sống tại Việt Nam sẽ lìa trần vì những biến chứng của bệnh này. Ðây là một con số rất đáng ngại cho một nước xấp xỉ 100 triệu dân.

Sau đây là tổng số người Việt Nam đã bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn viêm gan B trong quá khứ. Trong số này, nhiều người đã hết bệnh và có chất đề kháng chống lại vi khuẩn viêm gan B (họ đã được miễn nhiễm). Những thống kê này cho thấy người Việt Nam đã bị lây bệnh rất nhiều trong lúc lớn lên tại quê nhà.
 

Nói một cách tổng quát, tỷ lệ bệnh viêm gan B vẫn cao nhất ở các nước kém mở mang với một hệ thống y tế thô sơ. Nước càng nghèo, càng chậm tiến chừng nào, con số bệnh nhân viêm gan B càng cao chừng đó. Trong khi Trung Cộng có tỷ lệ viêm gan B là 12.2%, Nhật Bản với nền kinh tế phồn thịnh hơn chỉ có khoảng 2.6%. Ngay cả những nước chậm tiến nhất tại Phi Châu, như Mozambique, Uganda, Zambia v.v., tỷ lệ bệnh viêm gan B cũng chỉ khoảng 12 đến 14% mà thôi (nghĩa là vẫn thấp hơn tỷ lệ bệnh viêm gan B tại Việt Nam). Với tỷ lệ 0.8%, nghĩa là khoảng 1.25 triệu bệnh nhân, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có tỷ lệ bệnh viêm gan B thấp nhất thế giới. Dựa theo thống kê của Blumberg, Curr Probl Cancer 6(12):1 thì có hơn 24% người dân tại Việt Nam mắc bệnh viêm gan B (tức 1 trong 4 người). Trong số người này thì có hơn 80% đã bị ung thư gan liên quan một cách trực tiếp đến vi khuẩn viêm gan B.
Nếu dựa theo bản đồ thế giới dưới đây, với tỷ lệ từ 0.1% đến 2%, các quốc gia như Hoa-Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc, New Zealand, và một số nước Âu Châu, như Pháp, Thụy-Sĩ, Ðức v.v. có tỷ lệ bệnh viêm gan B thấp hơn các nước Á Châu rất nhiều.

Bản đồ thế giới dưới đây cho thấy tỷ lệ ung thư gan trên toàn thế giới. Nếu so sánh với bản đồ trên (hình số 3-1A), công dân những nước với tỷ lệ bệnh nhân viêm gan B cao sẽ dễ bị ung thư gan hơn. Việt Nam là một trong những quốc gia chưa có thống kê rõ rệt về ung thư gan.

LỊCH SỬ CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN B

Vào những năm 1880, một số bệnh nhân bỗng dưng bị vàng da sau khi được chích ngừa bệnh đậu mùa (small pox). Với nhận xét này, người ta tin rằng bệnh viêm gan cũng có thể lây qua máu. Lúc bấy giờ họ đưa ra một giả thuyết như sau: Có 2 loại viêm gan. Loại thứ nhất lây qua thức ăn, nước uống gây từ vi khuẩn viêm gan nhiễm độc (infectious hepatitis virus). Loại thứ hai lây qua máu từ vi khuẩn viêm gan huyết tương (serum hepatitis virus).
Nhưng mãi đến những năm 1960, người ta mới chứng minh được điều này một cách cụ thể bằng những test thử máu đặc biệt. Trong huyết tương của một số bệnh nhân viêm gan lây qua máu, người ta phát hiện được một chất kháng nguyên đặc biệt (Antigen, viết tắt là Ag), mà sau này được gọi là HBsAg.
Rồi vào năm 1970 vi khuẩn viêm gan B được nhận diện dưới kính hiển vi điện tử bởi khoa học gia Dane. Phân tử này (danh từ y khoa là Dane particle) với kích thước là 42 nm, có một vỏ bên ngoài chứa kháng nguyên HbsAg và một nhân bên trong gồm chất DNA của vi khuẩn viêm gan B và chất đạm gọi là core protein. Chất nhân đạm này có thể khám phá khi thử máu (HbcAg). Và khám phá này, đã đánh dấu một bước tiến vô cùng quan trọng trong việc định bệnh viêm gan.

ÐẶC TÍNH CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN B

Vi khuẩn viêm gan B thuộc loại DNA trong gia đình hepadna và được xem là một trong những vi khuẩn bé nhỏ nhất hiện nay. Vi khuẩn lan tràn khắp nơi trên thế giới và có những đặc tính sau đây:

LỚP VỎ VỮNG CHẮC:

Chúng được che chở bởi một lớp vỏ rất kiên cố, nên có thể sống sót trong thiên nhiên từ năm này qua tháng nọ, mà không hề bị thay đổi. Ngay cả trong những môi trường đông lạnh như -20 độ C, chúng có thể tiếp tục giữ trạng thái nguyên vẹn trong vòng 15 năm. Nếu nhiệt độ xuống -80 độ C, chúng vẫn sống được 2 năm. Với nhiệt độ bình thường trong nhà (room temperature) chúng có thể sống được 6 tháng. Ngay cả khi bị phơi khô trong vòng 3 đến 4 tuần lễ, vi khuẩn viêm gan B vẫn giữ nguyên khả năng tàn phá tế bào gan khi xâm nhập vào cơ thể chúng ta.

ÐẶC TÍNH TĂNG TRƯỞNG (replication) và XÁP NHẬP NHIỄM THỂ (integration): Gan là mục tiêu chính của vi khuẩn viêm gan Bợ. Khi xâm nhập vào cơ thể, chúng sẽ đi thẳng vào từng tế bào của gan và sinh trưởng rất nhanh chóng. Với đặc tính vi khuẩn hóa, chúng sẽ trưng dụng và điều khiển "nhân công" của tế bào gan một cách triệt để. Sau đó, chúng dần dần chiếm lấy chủ quyền và từ đó phát huy nhiều mệnh lệnh liên tục. Sự thay đổi sở hữu chủ này có thể gây ra nhiều hậu quả tai hại sau này. Không những chỉ "xâm nhập gia cư" một cách bất hợp pháp, chúng còn có thể trà trộn với chất DNA của tế bào gan, thay đổi đặc tính di truyền của "chủ nhà" một cách ngang nhiên. Sự xáp nhập nhiễm thể này được thấy rõ ràng nhất ở các tế bào ung thư gan gây ra từ bệnh viêm gan B kinh niên.

CÁCH KHỬ TRÙNG

Vi khuẩn viêm gan B có thể bị tiêu diệt một cách dễ dàng nếu được đun sôi 100 độ C trong vòng 1 đến 5 phút, hoặc sát trùng bằng Glutaraldehyde, Chloroform hoặc formalin. Ngược lại, tia cực tím (Ultraviolet radiation), chất ether cũng như alcohol không đủ mạnh để hủy hoại

AI CÓ THỂ BỊ VIÊM GAN B?


Vì đây là bệnh truyền nhiễm, nên tất cả chúng ta ai ai cũng có thể bị. Vi khuẩn viêm gan B được tìm thấy trong máu, mồ hôi, nước bọt, nước mắt cũng như nước tiểu và tinh dịch của bệnh nhân. Bệnh thường lây trực tiếp từ người này qua người kia. Dễ dàng nhất là qua máu và tinh dịch. Nhưng chung đụng đời sống hằng ngày như trong lúc va chạm mồ hôi nước mắt của người bệnh cũng có thể bị lây. Tuy một ít vi khuẩn được tìm thấy trong nước bọt của bệnh nhân viêm gan B, lây bệnh trong lúc ăn uống hoặc chấm chung chén nước mắm với người có bệnh có lẽ chỉ xẩy ra trên lý thuyết mà thôi. Cho tới nay chưa ai bị lây bệnh viêm gan B trong lúc ăn uống chung với người có bệnh.

1) LÂY QUA MÁU:

Trong quá khứ, tiếp máu (blood transfusion) là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm gan B. Nhất là vào những năm 1960, khi hiến máu được trả tiền thù lao, nhiều người nghiện ngập, đã đổi máu lấy tiền mua thuốc cần sa. Trong những năm này, hơn 50% bệnh nhân đã bị bệnh viêm gan B, sau khi được truyền máu. Vì trong máu của người bệnh chứa đựng cả trăm ngàn vi khuẩn viêm gan B, nên chỉ cần một giọt máu rất nhỏ xâm nhập vào cơ thể của chúng ta là đủ để lây bệnh.
Ngày nay với những phương pháp thử máu chính xác, truyền máu trở nên rất an toàn. Chỉ 1 trong 63.000 đơn vị máu mới có một túi máu bị nhiễm khuẩn.

2) LÂY QUA DỤNG CỤ THIẾU VỆ SINH:

Tương tự như trường hợp của bệnh viêm gan C, một số người Việt có thể đã bị lây từ những kim chích hoặc dụng cụ y-khoa ô nhiễm, khử trùng không đúng cách.
Một ít vi khuẩn viêm gan B cũng có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta trong lúc châm cứu (acupuncture), xâm mình (tattoo), xỏ tai (ear piercing), cạo gió (coin rubbing), lể (skin punct-ure) với những dụng cụ dơ bẩn, nhiễm trùng.
Tại Hoa Kỳ, những người nghiện cần sa thường dùng kim chích của nhau, nên lây bệnh cho nhau dễ dàng và nhanh chóng. Dùng chung đồ cạo râu, tông đơ cắt tóc hoặc bàn chải đánh răng với người bệnh cũng có thể bị lây bệnh.

3) LÂY QUA ÐƯỜNG SINH LÝ:

Ðây là cách thức lây bệnh thường xuyên và quan trọng nhất tại Hoa Kỳ, nhất là ở những lứa tuổi dậy thì. (Trên phương diện này, cách thức lây bệnh của bệnh viêm gan B và bệnh AIDS hoàn toàn giống nhau, nghĩa là qua máu và qua vấn đề sinh lý). Một ít vi khuẩn viêm gan B trong tinh dịch (sperm) cũng như tiết dịch âm đạo (vaginal discharge) có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta trong lúc giao cấu với người có bệnh. Vì bệnh viêm gan B thường không có triệu chứng gì cả, nên những người bạn tình này tiếp tục vô tình truyền bệnh của mình cho người khác một cách nhanh chóng và dễ dàng. Vì bệnh có thể lây qua đường sinh lý, nên nếu quý vị chưa có kháng thể chống bệnh viêm gan B, quý vị nên đeo bao cao su (condoms) trong lúc giao hợp với người có bệnh. Trong trường hợp lỡ ăn nằm với người có bệnh mà quên không dùng bao cao su, quý vị nên liên lạc với bác sĩ gia đình của mình để được chích ngừa (post-exposure vaccination). Tuy nhiên, phương pháp chích ngừa này vừa đau đớn vừa mắc tiền, lại không toàn hảo.

4) LÂY TỪ MÁU CỦA MẸ TRONG LÚC RA ÐỜI:


Ðây là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm gan B tại các nước Á Châu. Ít nhất 90% người Việt Nam viêm gan B kinh niên đã bị lây bệnh từ mẹ khi vừa mới ra đời. Tỷ lệ lây bệnh trong lúc hạ sanh lệ thuộc vào tỷ số vi khuẩn viêm gan B di chuyển trong máu của người mẹ. Khi thử chất HBeAg, người ta có thể tiên đoán được xác xuất lây bệnh từ mẹ sang con. Nếu dương tính, khoảng 70% đến 90% bé sơ sinh sẽ bị lây bệnh. Con số này giảm xuống khoảng 10% đến 40% nếu người mẹ không có chất HBeAg trong máu.
Vì thế, đây là một trong những lãnh vực y tế quan trọng nhất cần được cải thiện và tân tiến hóa một cách cấp bách và triệt để, hầu thuyên giảm nạn viêm gan B, đã và đang lan tràn khắp nơi trên quê hương chúng ta. Tại Hoa Kỳ, tất cả các phụ nữ trong lúc thai nghén đều được truy tầm bệnh viêm gan B. Nếu người mẹ có vi khuẩn viêm gan B, các bé sơ sinh sẽ được chích ngừa ngay lập tức khi vừa mới chào đời (post-exposure vaccination). Thông thường bé sẽ được chích 2 mũi thuốc khác nhau. (Xin xem phần chích ngừa viêm gan B). Nhờ thế, đa số các em sẽ thoát được căn bệnh hiểm nghèo này.
Tiếc thay, khoảng 10% đến 15% các bé sơ sinh kém may mắn hơn, tuy đã được chích ngừa hẳn hoi và đúng theo sách vở vẫn bị lây bệnh trong lúc ra đời từ người mẹ có bệnh viêm gan B. Tương tự như viêm gan C, sanh đẻ tự nhiên hoặc giải phẫu lấy con (C-section) đều có tỷ lệ lây bệnh tương tự như nhau. Bé sẽ dễ bị lây bệnh hơn, nếu trong máu của người mẹ chứa đựng nhiều vi khuẩn viêm gan B.

5) LÂY QUA NHỮNG VẾT TRẦY TRỤA, NỨT NẺ TRÊN DA:

Như viết ở trên, vì vi khuẩn viêm gan B được tìm thấy khắp nơi trên cơ thể bệnh nhân, nên chúng ta có thể bị lây bệnh trong lúc sống chung với họ. Các vi khuẩn viêm gan B trong mồ hôi, nước mắt có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta qua những kẽ hở trên da khi chúng ta bị trầy trụa, té ngã. Trong thiên nhiên, vi khuẩn viêm gan có thể giữ nguyên trạng thái nhiễm trùng trong một thời gian lâu dài như đã viết ở trên, nên một số dụng cụ đồ đạc và vật dụng công cộng và ngay cả các đồ chơi trẻ em có thể bị ô nhiễm. Trong lúc va chạm với những vi khuẩn này, chúng có thể theo các vết khô nứt trên da đi thẳng vào máu mà chúng ta không hề hay biết.

6) LÂY QUA CÔN TRÙNG:

Khi người bệnh viêm gan B bị muỗi đốt, một số vi khuẩn có thể tích trữ trong bao tử của muỗi. Những vi khuẩn này sẽ theo ngòi chích truyền qua người bị muỗi cắn kế tiếp. Ngoài ra, ruồi muỗi cũng có thể chuyên chở vi khuẩn viêm gan B từ chỗ này sang chỗ khác. Chúng có thể làm ô nhiễm thức ăn và nước uống. Khi nuốt những vi khuẩn trong thức ăn bị ô nhiễm này, chúng ta có thể bị lây bệnh viêm gan B. Hai điều kể trên có lẽ cũng chỉ đúng trên lý thuyết mà thôi. Trên thật tế, người ta vẫn chưa có bằng chứng nào cụ thể để chứng minh rằng viêm gan B có thể lây qua thức ăn hoặc côn trùng.
Tóm lại, bệnh viêm gan B dễ lây nhất qua máu, kim chích thiếu khử trùng và qua đường sinh lý. Bệnh cũng có thể truyền qua mồ hôi và nước bọt, nhưng điều này khó xẩy ra hơn.
 

ÐỊNH BỆNH VIÊM GAN B


1) THỬ MÁU:

Thử máu là phương pháp duy nhất để định bệnh viêm gan B. Khi thử máu tổng quát, khả năng làm việc của gan có thể được suy đoán qua những chất hóa học như ALT, AST, Albumin, PT/PTT, v.v. Nhưng để định bệnh viêm gan B, người y sĩ sẽ phải thử một số test máu rất đặc biệt. Vì những cuộc thử nghiệm này rất chuyên môn và việc chuẩn đoán bệnh lý dựa trên những kết quả khảo sát này rất rắc rối và phức tạp, nên phần trình bầy sau đây chỉ dành cho những đọc giả với một trình độ hiểu biết rộng rãi về y khoa.

a) HBsAg (thay thế cho danh từ Australian Antigen):

Ðây là cuộc thử nghiệm máu quan trọng và chính yếu nhất để khám phá ra bệnh viêm gan B. HBsAg là kháng nguyên mặt ngoài của vi khuẩn viêm gan B viết tắt từ Hepatitis B surface Antigen. Nếu dương tính, cơ thể đang bị nhiễm trùng. Chất HBsAg sẽ tăng nhanh từ 1 đến 10 tuần lễ sau khi bị lây bệnh. Nếu cơ thể có khả năng tự chữa bệnh, HBsAg sẽ từ từ giảm dần và hoàn toàn biến mất trong vòng 4 đến 6 tháng. Nếu chất HBsAg không biến đi và tiếp tục kéo dài hơn 6 tháng, bệnh không hết và bước sang giai đoạn nguy hiểm hơn: viêm gan B kinh niên (chronic hepatitis).

b) HBsAb (cũng được gọi là Anti-HBs)


Ðây là kháng thể chống lại kháng nguyên mặt ngoài, viết tắt từ chữ Hepatitis B surface Antibody. Với kháng thể này, cơ thể đã có vũ khí chống lại vi khuẩn viêm gan B. Nói một cách khoa học, chúng ta đã được miễn nhiễm (immune). Tiếc thay, điều này không hoàn toàn giản dị như vậy. Trong thiên nhiên, có nhiều loại vi khuẩn viêm gan B khác nhau. Tùy theo mẫu tín hiệu (codon) trên nhiễm thể DNA, vi khuẩn viêm gan B sẽ được phân chia thành 6 di truyền hình (genotypes) và 4 tiểu loại (subtypes) chính.
Ðể tiêu diệt mỗi một loại vi khuẩn, cơ thể chúng ta cần một loại vũ khí khác nhau. May mắn thay, đa số bệnh nhân một khi đã được miễn nhiễm, chất HBsAb của họ sẽ có khả năng tiêu diệt tất cả các loại viêm gan B kể trên. Chỉ trong 25% bệnh nhân còn lại, chất kháng thể của họ chỉ đủ sức hóa giải một vài loại vi khuẩn viêm gan B trong cơ thể mà thôi. Vì thế, những người này tuy là có vào trong người, nhưng vẫn bị đánh đau bởi các "anh em" viêm gan B. Trong trường hợp này, máu của bệnh nhân sẽ có cả kháng thể lẫn kháng nguyên mặt ngoài của vi khuẩn viêm gan B (HBsAb và HBsAg đều dương tính cùng một lúc). Những người này được xem là đang bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn viêm gan B, và có thể cần phải chữa trị.

c) HBcAb (cũng được gọi là Anti-HBc)


Ðây là kháng thể chống lại kháng nguyên của nhân vi khuẩn viêm gan B, viết tắt từ chữ Hepatitis B core Antibody. Người ta phân biệt 2 loại kháng thể khác nhau: IgM và IgG. HBcAb IgM tăng cao trong một thời gian ngắn khi gan bị viêm cấp tính, và được xem là kháng thể nhất thời, dương tính trong lúc "dầu sôi lửa bỏng", Sau một thời gian ngắn, chất IgM này sẽ từ từ giảm dần, nhường chỗ cho kháng thể kinh niên: HBcAb IgG. IgG được xem là kinh niên vì chúng sẽ dương tính trong một thời gian lâu dài.
Ðôi khi, chất kháng thể nhất thời HBcAb-IgM tăng cao trở lại trong máu của bệnh nhân viêm gan kinh niên, khi trạng thái của gan bỗng dưng "nóng bỏng" trở lại hoặc bệnh trở nên trầm trọng hơn xưa (exacerbations).
Nói một cách dễ hiểu, mỗi lần "nhà cháy lớn", chất IgM của HBcAb sẽ tăng cao. Mỗi lần nắng lớn hơn, lá gan sẽ chóng khôhơn. Vì thế, sự thay đổi của chất IgM này có thể được dùng để theo dõi tiến triển của bệnh trong lúc chữa trị.
Tóm lại, HBcAb sẽ dương tính khi cơ thể chúng ta đã có dịp tiếp xúc với vi khuẩn viêm gan B. Nếu vừa mới bị lây và bệnh còn đang "nóng hổi" chất IgM sẽ tăng cao. Nếu đã bị bệnh trong quá khứ xa xôi chất IgG sẽ dương tính. Vì thế, để thuyên giảm nguy cơ lây bệnh viêm gan B trong lúc nhận máu, hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ dùng phương pháp thử máu này cho tất cả những người đi hiến máu (blood donors). Các đơn vị máu có chứa chất HBcAb sẽ bị loại bỏ.

d) HBeAg và HBeAb (cũng được gọi là Anti-HBe):


Ðây là một trong những thử nghiệm máu rất quan trọng trong việc định và chữa bệnh viêm gan B. Kháng nguyên HBe nếu dương tính (HBeAg positive) có nghĩa là vi khuẩn viêm gan B đang sinh sôi nẩy nở trong cơ thể chúng ta một cách nhanh chóng (replication) và (có thể) chúng cũng đang tấn công và tàn phá tế bào gan một cách không ngừng (infectivity). Người có chất HBeAg có thể lây bệnh của mình qua người khác một cách dễ dàng. Và đây có thể là lý do chính yếu mà bé sơ sinh Việt Nam dễ bị lây bệnh khi vừa mới chào đời. Người ta ước đoán từ 40 đến 50% phụ nữ Á Châu trong lứa tuổi sanh đẻ bị nhiễm trùng vi khuẩn viêm gan A với chất HBeAg dương tính. Ngoài ra tại Hoa Kỳ, một số trường nha khoa từ chối không thâu nhận những sinh viên vào trường nếu kháng nguyên này dương tính.

Trong một số trường hợp may mắn, cơ thể từ từ tiêu diệt kháng nguyên này bằng một kháng thể đặc biệt với tên là HBeAb (Seroconversion). Sự hiện diện của HBeAb có thể là một dấu hiệu cho biết gan đang trên đường phục hồi và từ từ hết bệnh.
Trong thiên nhiên, đa số vi khuẩn viêm gan B có khả năng bài tiết kháng nguyên HBeAG, và vì thế được gọi là wild type. Các loại vi khuẩn này có thể thay đổi và biến thành một dạng khác khó chữa trị hơn. Tuy vẫn sinh sôi nẩy nở một cách rất nhanh chóng, chúng không hề bài tiết kháng nguyên HBeAG. Danh từ y khoa gọi là pre-core mutant. Người Việt chúng ta thường bị tấn công bởi một loại vi khuẩn này, gây ra khá nhiều rắc rối trong lúc chữa bệnh. Sự biến dạng của vi khuẩn wild type thành pre-core mutant có thể được xem là một thất bại của hệ thống miễn nhiễm trong việc bảo vệ cơ thể của chúng ta trước sự tàn phá của các loại vi khuẩn trong thiên nhiên.

e) Quantitate HBV DNA

Ðây là một thử nghiệm máu cầu kỳ và tốn kém. Trong phương pháp này, tổng số vi khuẩn viêm gan B di chuyển trong máu sẽ được xác định rõ ràng. Tuy số lượng vi khuẩn viêm gan B trong máu không nhất thiết phản ảnh trạng thái bệnh tật của tế bào gan, nhưng đây là một cách thức theo dõi tiến triển bệnh tương đối chính xác trong khi chữa trị.

f) ALT & AST

Ðây là 2 chất hóa học vẫn thường được mệnh danh là liver function test. Khi gan bị viêm, 2 chất hóa học này có khuynh hướng tăng rất cao. Ðể biết thêm chi tiết, xin quý vị đọc chương về Bệnh Viêm Gan C.

2) SIÊU ÂM GAN (Ultrasonography):

Phương pháp này sẽ giúp người y sĩ một khái niệm tổng quát về hình thù, kích thước và thể chất của gan. Ung thư hoặc bướu, chai gan, sạn trong túi mật v.v. có thể được khám phá một cách tương đối dễ dàng. Tuy nhiên phương pháp này không cho biết tình trạng sưng viêm của gan.

3) CT SCAN:


Ðây là một lối chụp hình quang tuyến đặc biệt với ứng dụng của máy điện tử. Một số chi tiết như chai gan, ung thư gan, v.v., có thể được khám phá trong phương pháp này. Những chi tiết của hình CT scan có thể chính xác hơn nếu so với kết quả của siêu âm gan. Tuy nhiên phương pháp này cũng chỉ nhận diện được hình thù chứ không phát giác cường độ hoặc trạng thái viêm của lá gan.

4) LIVER-SPLEEN SCAN:


Ðây là một phương thức định bệnh tương đối cầu kỳ. Trong phương pháp này, một ít chất phóng xạ, điển hình là Technetium 99m-labeled sulfur colloid sẽ được tiêm thẳng vào tĩnh mạch. Sự di chuyển và hấp thụ của chất phóng xạ này sẽ được khám phá bằng hệ thống điện toán đặc biệt. Với ứng dụng của thử nghiệm này, người ta có thể đoán được hình thù và thể tích của lá gan, cũng như khám phá ra những bệnh tật khác như ung thư, áp-xe, u nang (cyst) v.v. Tuy nhiên, phương pháp này cũng không cho biết cường độ của viêm gan.

5) SINH THIẾT GAN (Liver Biopsy):

Ðây là một phương thức chính xác và độc nhất để nhận định sự tiến triển và trạng thái bệnh tật của gan. Khi nghiên cứu tế bào gan dưới kính hiển vi, người ta cũng có thể phân biệt và chuẩn đoán được một số bệnh tật khác nhau đưa đến viêm gan. Trong phương pháp này, một ít tế bào gan sẽ được lấy ra bằng một kim rất nhỏ, và sẽ được khám nghiệm dưới kính hiển vi. Phương pháp này đã được trình bầy một cách kỹ lưỡng trong chương Bệnh Viêm Gan C.
CƠ THỂ CỦA CHÚNG TA TRƯỚC SỰ TẤN CÔNG CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN B
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn viêm gan B có thể gây ra những triệu chứng cấp tính. Những triệu chứng này thay đổi nhiều, tùy theo tuổi tác của bệnh nhân khi bị lây bệnh. Bệnh có thể từ rất nhẹ và mơ hồ như những cơn cảm cúm thông thường không đáng kể đến rất nặng phải nhập viện để điều trị.
Khi trẻ em hoặc các bé sơ sinh bị lây bệnh, những triệu chứng thường nhẹ hơn so với người lớn. Tuy nhiên khi bị lây bệnh trong lúc ấu thơ, bệnh sẽ dễ trở thành kinh niên hơn. Ngược lại, những triệu chứng của bệnh viêm gan B cấp tính thường nặng hơn cho những bệnh nhân lớn tuổi. May mắn thay, với một hệ thống miễn nhiễm
"già dặn" hơn, ít nhất 90% những bệnh nhân này sẽ hoàn toàn hết bệnh.
Nói một cách dễ hiểu, nếu "mặt trận" đầu tiên giữa hệ thống miễn nhiễm và vi khuẩn viêm gan càng "khốc liệt" chừng nào, cơ hội "diệt tan quân thù" và khả năng hoàn toàn hết bệnh càng cao chừng nấy. Và, nếu cơ thể quá non nớt hoặc quá già yếu, không đủ sức nhận diện và "gây chiến" với "kẻ thù", cơ hội để ’quân xâm lấn" len lỏi vào hàng ngũ quốc gia sẽ rất cao đưa đến bệnh viêm gan B kinh niên.
Tóm lại, triệu chứng, diễn tiến cũng như hậu quả và biến chứng của bệnh viêm gan B sẽ lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân cũng như cách thức khi bệnh nhân bị lây bệnh.
 

VIÊM GAN B CẤP TÍNH


Khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn viêm gan B sẽ đi thẳng vào từng tế bào gan để tiếp tục tăng trưởng. Tùy theo cách thức lây bệnh, thời kỳ tiềm phục hoặc ủ bệnh (incubation period) sẽ kéo dài từ 1 đến 4 tháng. Bệnh thường phát triển sớm hơn nếu đùng một lúc cơ thể bị tấn công bởi trăm triệu vi khuẩn viêm gan B, như trong trường hợp nhận máu bị nhiễm trùng.
Thông thường bệnh nhân đang khỏe mạnh bỗng dưng cảm thấy mệt mỏi, đau nhức tứ chi, cơ thể khó chịu, hâm hấp sốt. Da bị ngứa hoặc nổi mề đay. Người uể oải, thiếu năng lực, miệng nhạt đắng, buồn nôn, ăn mất ngon. Một số bệnh nhân cảm thấy đau bụng phần trên, dưới xương sườn phải. Một khi da trở nên vàng hoặc nước tiểu trở nên đậm mầu, những triệu chứng đau nhức ban đầu tự nhiên giảm dần một cách nhanh chóng. Bấy giờ bệnh nhân cảm thấy rất khỏe khoắn mặc dù da và mắt trở nên mỗi ngày một vàng hơn. Tình trạng này sẽ kéo dài từ 1 đến 3 tháng.
Ða số các triệu chứng kể trên không cần chữa tự nhiên cũng từ từ biến mất. Trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, bệnh có thể kéo dài từ năm này qua tháng nọ, khiến người bệnh cảm thấy mệt mỏi kinh niên. Từ 0.1% đến 0.5% bệnh trở thành ác tính (fulminant hepatitis), một trạng thái vô cùng nguy hiểm. 80% bệnh nhân với viêm gan ác tính sẽ lìa trần nếu không được ghép gan (liver transplantation). Như viết ở trên, sự tiến triển của bệnh sẽ tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân. Một trong 3 trường hợp sau đây sẽ xẩy ra sau khi bị vi khuẩn viêm gan B tấn công:

a) Hoàn toàn hết bệnh
b) B ệnh nằm trong trạng thái "ngủ yên", hoặc "ít phá hoại hơn"
c) Viêm gan kinh niên
a) Hoàn toàn lành bệnh: Ðây là một chiến thắng lớn. "Quân xâm lấn" đã hoàn toàn bị hệ thống miễn nhiễm đẩy lui và tiêu diệt. Cuộc đụng độ với vi khuẩn đã giúp cơ thể chúng ta chế tạo ra kháng thể HBsAB. Với "vũ khí" phòng thân này, chúng ta sẽ được miễn nhiễm (immune) suốt đời, và không phải lo lắng gì nữa. Nói một cách khác, chúng ta đã được "tạo hóa" chích ngừa một cách miễn phí.
b) Healthy carrier hoặc "ngủ yên" (dormant state): Trong trường hợp này các vi khuẩn viêm gan B trở nên "ngủ yên". Chúng tăng trưởng chậm chạp và sống hiền hòa hơn, nên không phá hoại tế bào gan như thuở ban đầu. Mặc dầu cơ thể bệnh nhân vẫn chứa đựng một số vi khuẩn viêm gan B, gan của họ vẫn tiếp tục hoạt động một cách rất bình thường. Thật ra danh từ "ngủ yên" hoặc healthy carrier không được hoàn toàn chính xác. Vì trong một số trường hợp, gan vẫn bị tàn phá từ từ gây ra những biến chứng tương tự như trong trường hợp của viêm gan kinh niên. Khi thử máu, kháng nguyên mặt ngoài HBsAG vẫn tiếp tục dương tính. Nhưng chất ALT và AST không bị tăng cao. Ðây là một trạng thái mà cơ thể người bệnh chỉ có thể kềm hãm sự tăng trưởng và giảm thiểu sức tàn phá của vi khuẩn viêm gan B, chứ chưa đủ khả năng loại bỏ và tiêu diệt chúng.
Tuy nhiên, nhờ vào sự kiểm soát này, vi khuẩn viêm gan B không còn đi xâm lấn và tàn phá lá gan một cách đáng sợ, mà chỉ sống rải rác khắp nơi như những "thành phần bất hợp pháp". Một khi "ngủ say" chúng có khuynh hướng tiếp tục nằm yên không phá phách gây tai hại đến lá gan. Trong một số trường hợp đặc biệt, vi khuẩn viêm gan B đang ngủ yên tự nhiên nổi dậy và đánh phá tế bào gan trở lại (reactivation). May mắn thay, điều này hiếm khi xẩy ra, thường với tỷ lệ dưới 1% mỗi năm.
c) Viêm gan kinh niên: Thông thường phân hóa tố ALT và AST sẽ tăng rất cao trong thời gian viêm gan cấp tính. Các chất hóa học này sẽ từ từ giảm dần và trở lại bình thường trong một thời gian từ 1 đến 4 tháng. Nếu sự bất bình thường của chất ALT/AST kéo dài hơn 6 tháng, bệnh đã bước qua giai đoạn nguy hiểm hơn: viêm gan kinh niên. Khoảng 5% bệnh nhân người lớn, 30% bệnh nhân trẻ em từ 1 đến 5 tuổi và 90% bé sơ sinh lây bệnh khi mới ra đời sẽ nằm trong trường hợp này.

VIÊM GAN B KINH NIÊN (Chronic Active Hepatitis B)

1) AI SẼ BỊ VIÊM GAN B KINH NIÊN ?

Số phận của người bị viêm gan B sẽ được định đoạt bởi mối tương quan giữa sự tăng trưởng của vi khuẩn và sự chống trả của hệ thống miễn nhiễm. Thông thường khi một vật lạ xâm nhập vào cơ thể chúng ta, hệ thống miễn nhiễm sẽ được báo động. Cơ thể sẽ chế tạo ra kháng sinh và huy động cả một hệ thống dây truyền hầu loại bỏ hoặc tiêu diệt vật lạ đó một cách nhanh chóng. Nói một cách dễ hiểu, khi vi khuẩn viêm gan B xâm nhập vào cơ thể chúng ta, một "Hội Nghị Diên Hồng" lại diễn ra với: "Toàn dân nghe chăng? Sơn Hà nguy biến! Nên hòa hay chiến?" Nếu toàn dân đồng lòng: "Chiến!", cơ thể sẽ "động viên" và cuộc chiến bắt đầu. Tuy nhiên, nếu ý dân chỉ muốn cầu "Hòa" thì cơ thể sẽ tiếp tục "ngủ yên" để mặc cho quân xâm lấn muốn làm gì thì làm.
Trong trường hợp này, vì một lý do chưa được rõ, vi khuẩn viêm gan B có thể tăng trưởng một cách nhanh chóng trong những tế bào gan, mà hệ thống miễn nhiễm của người bệnh vẫn không hề hay biết. Càng trẻ tuổi chừng nào, sự khoan dung miễn dịch (immune tolerance) với vi khuẩn viêm gan B càng ’bao la" chừng nấy.
Tóm lại, bệnh nhân càng trẻ tuổi chừng nào, cơ thể càng suy nhược trước sự xâm nhập của vi khuẩn viêm gan B chừng đó, và vì thế, càng dễ bị viêm gan B kinh niên. Theo một thống kê gần đây, tại một số nước Á Châu như Việt Nam và Ðài Loan, gần 90% trẻ em dưới 5 tuổi và khoảng 80% bệnh nhân dưới 20 tuổi đã và đang bị viêm gan B kinh niên. May mắn thay, không phải ai bị viêm gan B kinh niên cũng sẽ bị xơ (liver fibrosis) và chai gan (liver cirrhosis).

2) TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM GAN B KINH NIÊN

Trong giai đoạn đầu tiên của bệnh viêm gan B kinh niên, bệnh nhân thường không có bất cứ một triệu chứng nào đáng kể. Ðây là thời gian mà vi khuẩn viêm gan B đang củng cố địa vị trong một môi trường mới, chứ chưa trực tiếp tàn phá cơ thể của "khổ chủ". Chúng thường chỉ dùng các tế bào gan như những phương tiện và công cụ để tiếp tục tăng trưởng. Vì thế, chỉ sau một thời gian ngắn, cơ thể bệnh nhân bắt đầu chứa đựng hằng tỷ vi khuẩn viêm gan B. Tuy thế, họ vẫn hoàn toàn chưa có bất cứ một triệu chứng nào, hoặc nếu có cũng chỉ rất mơ hồ.
Nếu thử máu, chất ALT vẫn hoàn toàn bình thường. Ngay cả khi khám nghiệm dưới kính hiển vi, những tế bào gan cũng không hề có dấu hiệu bị viêm đỏ hoặc tổn thương. Sự "nhu mì" và phong cách khoan dung của hệ thống miễn nhiễm trong thời gian này đã tạo cho vi khuẩn viêm gan B một cơ hội tăng trưởng ngày một nhiều hơn. Thời gian tự ấn (replicative phase) này tiếp tục kéo dài chuẩn bị cho những cuộc tàn phá lá gan trong những năm tháng sắp tới.
Thông thường, sau một thời gian từ 15 đến 35 năm, bệnh mới bước qua một giai đoạn mới khi hệ thống miễn nhiễm bỗng dưng "qua cơn mê" và "tỉnh giấc mộng". Người ta cho rằng, có lẽ vi khuẩn.
1.Gan
Gan nặng khoảng 1.5kg và ở nửa bên phải của vùng bụng trên. Ở thùy gan phải có một hõm nhỏ chứa túi mật. Túi mật là "túi chứa" dịch mật do gan tiết ra. Dịch mật rất quan trọng trong sự tiêu hóa các thức ăn béo. Gan chứa hàng tỉ các tế bào gan hoạt động.

Một lượng lớn dòng máu từ tim bơm đi được hệ tuần hoàn đưa đến gan để gan thực hiện chức năng chuyển hóa. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng mỗi phút có khoảng 1-1.5 lít máu được vận chuyển đến gan qua hệ thống tĩnh mạch cửa. Máu giàu oxy được động mạch gan đưa đến gan và đồng thời hệ thống tĩnh mạch cửa mang máu giàu chất dinh dưỡng đến gan. Máu trong tĩnh mạch cửa đã chảy qua ống tiêu hóa và lấy được rất nhiều chất dinh dưỡng. Trong các tế bào gan các chất dinh dưỡng (carbohydrate, protein và chất béo) tiếp tục được chuyển hóa.

1.1 Các chức năng của gan

Gan là cơ quan chính đảm nhiệm chức năng chuyển hóa trong cơ thể. Gan tạo ra các đơn vị xây dựng protein (amino acid), các proteins, dịch mật, cholesterol và chất béo. Các chức năng khác có thể kể đến là dự trữ chất dinh dưỡng và khử độc cho cơ thể. Gan là nơi cất giữ các carbohydrates và các vitamins cũng như chuyển hóa các chất dinh dưỡng hấp thu được từ thức ăn.

1.1.1 Proteins

Trong cơ thể, proteins là chất liệu xây dựng các loại mô, các nội tiết tố, vách của tất cả các loại tế bào. Protein có nghĩa là "hàng đầu" hoặc "quan trọng nhất". Ðiều này nhấn mạnh tầm quan trọng của proteins. Không có protein thì không có cuộc sống. Cơ thể không thể tồn tại mà không cần đến các amino acids. 1 gram protein cung cấp 4 kilocalories (4 kcal) cho cơ thể.

Thức ăn có nhiều protein
Thịt, xúc xích, thịt gia cầm, cá, trứng, sữa và các thức ăn chế biến từ sữa.
Thức ăn có ít hoặc không có protein
Trái cây, rau, đường, dầu, tinh bột, bơ, bơ thực vật.


Tại ruột non, proteins trong thức ăn bị "bẽ gãy" ra thành các mảnh nhỏ nhất gọi là amino acids và sau đó các mảnh này được đưa đến gan. Gan sẽ tổng hợp các amino acids này thành các proteins chuyên biệt của cơ thể. Proteins không dự trữ tại gan. Thông thường thì proteins được dùng để tạo ra các chất của cơ thể (ví dụ, nội tiết tố, albumin) và chỉ dùng để tạo năng lượng khi có tình trạng khẩn cấp (chuyển hóa khi bị đói).

1.1.2 Carbohydrates

Chức năng chính của carbohydrates là tiếp tế và cung cấp năng lượng cho cơ thể. Nếu tính theo số lượng thì carbohydrates là chất dinh dưỡng quan trọng nhất của cơ thể người. Các chất xơ không được cơ thể tiêu hóa cũng xếp vào nhóm carbohydrates. 1 gram carbohydrates cung cấp 4 kilocalories (4 kcal) cho cơ thể.

Thức ăn có nhiều carbohydrates
Ðường, đồ ngọt, bánh mì, bột, tinh bột, trái cây, sữa, rau.


Thức ăn có ít hoặc không có carbohydratesBơ, bơ thực vật, dầu, thịt, cá, thịt gia cầm, trứng, xúc xích và phô mai.

 
Carbohydrates trong thức ăn bị "bẽ gãy" ra thành các loại đường (các đường đơn: glucose [đường lấy từ trái nho], galactose và fructose [đường trái cây]), được hấp thu vào máu rồi đưa đến gan. Glycogen carbohydrates dự trữ là những carbohydrates được tích trữ tại gan và tại bắp cơ. Chức năng của glycogen như là một năng lượng dự trữ dành để sử dụng trong một thời gian ngắn. Các carbohydrates còn lại ở trong chất đường của máu và là nguồn năng lượng cho các tế bào. Nếu lượng carbohydrates hấp thu vào nhiều hơn nhu cầu của cơ thể thì sẽ được chuyển thành các chất béo và dự trữ tại mô mỡ.

1.1.3 Chất béo

Các chất béo chủ yếu cung cấp cho cơ thể nguồn năng lượng cao, là nguồn dự trữ năng lượng và là thành phần của các vách của tế bào. Cơ thể chúng ta cũng cần chất béo để hấp thu các vitamins hoà tan trong mỡ (vitamin A, D, E và K). Khi bị rối loạn chuyển hoa mỡ (ví dụ: tăng cholesterol) cần hạn chế tổng lượng chất béo ăn vào. Hơn nữa nên sử dụng các loại chất béo chất lượng cao (như các loại bơ thực vật ăn kiêng, bơ hoa hướng dương, lúa mạch, thistle, hoa hướng dương, dầu olive hoặc dầu đậu nành). Chất béo từ cá cũng có tác dụng "giảm mỡ trong máu". 1 gram chất béo tạo ra 9 kilocalories (kcal).

Thức ăn có nhiều chất béo
Dầu, mỡ, bơ động vật, bơ thực vật, sốt mayonnaise, xúc xích, phô mai, thịt, kem, bánh ngọt.


Thức ăn có ít hoặc không có chất béoTrái cây, thực vật, bột, bánh mì, đường.

Chất béo và các cholesterol được hấp thu tại ruột non, và vận chuyển theo hệ bạch huyết đến gan. Các thành phần của chất béo (acid béo và glycerol) chuyển hóa tại gan rồi chuyển đến các cơ và là một nguồn năng lượng hoạt động của cơ. Lượng chất béo dư thừa được tích trữ trong các mô mỡ. Gan giúp cho quá trình tiêu hóa và hấp thu chất béo từ ruột non bằng cách tiết ra dịch mật.

1.1.4 Vitamins

Có 2 nhóm vitamin: tan trong mỡ và tan trong nước. Các vitamin tan trong mỡ A, D, E và K dự trữ trong gan. Gan cũng liên quan tới quá trình chuyển hoá các vitamin nhóm B và vitamin K. Các muối khoáng như sắt cũng dự trữ tại gan.

1.1.5 "Phòng xử lý chất độc" của cơ thể

Cùng với thận, gan là cơ quan khử độc của cơ thể. Các chất độc được cơ thể tạo ra trong quá trình chuyển hóa hoặc được đưa từ bên ngoài vào cơ thể (thuốc, các chất độc hại và rượu) đều được khử độc tại gan.

1.2 Xơ gan

Có trên 2 triệu người Ðức bị bệnh gan mãn tính và khoảng 800.000 người Ðức bị xơ gan.
Xơ gan là tình trạng tế bào gan hoạt động chuyển hoá bị phá hủy. Tại các tế bào bị hủy hoại có sự phát triển của các mô liên kết không hoạt tính. Các mô liên kết không có khả năng thực hiện các chức năng của tế bào gan.
Khi đến giai đoạn xơ gan, tổn thương gan là không hồi phục. Có một số lớn các chất được gọi là "chất bảo vệ gan" nhưng cho đến hiện tại, không có bằng chứng nào về việc có thể điều trị cải thiện chức năng hoặc trị khỏi xơ gan. Tuy nhiên hiệu quả tốt của phương pháp điều trị bằng chế độ ăn đã được xác nhận.
Các nguyên nhân gây phá hủy tế bào gan do tiến trình viêm mãn tính:


- Các virus và ký sinh trùng
- Các chất độc (đặc biệt là rượu) và sử dụng thuốc không đúng
- Viêm đường mật mãn tính
- Các rối loạn chuyển hóa hiếm gặp
Có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân xơ gan không tìm ra nguyên nhân.

Có 2 mức độ xơ gan cần được phân biệt:

 1. Dạng xơ gan còn bù: gan còn khả năng khử độc cho cơ thể, không có dịch báng và bệnh lý não do gan. Chẩn đoán dựa trên mô học (sinh thiết mô gan).
 2. Dạng xơ gan mất bù: đặc trưng bởi vàng da, thiếu các yếu tố đông máu, báng bụng, phù, sụt cân, nghẽn tĩnh mạch cửa, xuất huyết do vỡ phình tĩnh mạch thực quản, bệnh lý não do gan và các rối loạn các xét nghiệm chức năng trong cơ thể bệnh nhân.

1.2.1 Rượu là một nguyên nhân gây xơ gan

Nguyên nhân thường găp nhất của xơ gan là rượu. Tất cả những người uống rượu nhiều và thường xuyên đều có nguy cơ bị xơ gan. Tuy nhiên cần nhớ rằng không phải mọi trường hợp xơ gan đều do rượu. Thời gian uống rượu càng lâu khả năng tổn thương tế bào gan và phát triển thành xơ gan càng cao. Nguy cơ tổn thương gan do rượu ở phụ nữ cao hơn so với nam giới.
Ðối với nam giới: uống mỗi ngày 60g rượu (1.5 lít bia, 0.6L rượu vang, hoặc 120g rum) trong thời gian dài sẽ gây tổn thương gan.
Ðối với nữ giới: uống mỗi ngày 20-40g rượu (0.5 - 0.75 lít bia, 0.2 - 0.3 L rượu vang đỏ) trong thời gian dài sẽ gây tổn thương gan.
Rượu cung cấp 7 kcal / gram

Thành phần rượu trong 100 mL các loại thức uống như sau:

Malt beer
0.6 - 1.5 g

Rượu nhẹ (light wine)

5.5 - 7.5 g
Small beer
1.5 - 2.0 g

Rượu trung bình (medium  wine)

7.5 - 9.0 g
Whole beer
3.5 - 4.5 g

Rượu nặng  (strong wine)

9.0 - 11.0 g
Strong beer
4.8 - 5.5 g

Rượu cực mạnh (Fortified wine)

11.0 - 13.0 g

Nước uống không chứa alcohol

   - 0.5 g
Sparkling wine
7.0 - 10.0 g
 
 
Liqueur
20.0 - 35.0 g
 
 
Spirits
32.0 - 50.0 g
 
 
Rum
40.0 - 70.0 g


Ngay khi triệu chứng đầu tiên của tổn thương gan hoặc xơ gan xuất hiện, cần phải ngưng uống tuyệt đối mọi loại rượu. Các loại thức uống được gọi là không có rượu ("bia không chứa rượu") cũng không được uống. Cần chú ý có một số thức ăn cũng chứa rượu (brandy beans). Khi nhận toa thuốc mới từ bác sĩ cần cho bác sĩ biết mình đang bị xơ gan. Có nhiều loại thuốc có chứa rượu.
Lượng rượu uống trung bình hàng ngày của một người tại Cộng Hòa Liên Bang Ðức là 30grams. Từ sau khi nước Ðức thống nhất, người Ðức trở nên đứng đầu thế giới trong việc uống rượu. Có khoảng 20.000 người chết do xơ gan tại Ðức. Xơ gan là căn bệnh đứng hàng thứ năm gây tử vong tại Ðức.

1.2.2 Các loại xơ gan đặc biệt - Xơ gan mật nguyên phát

Xơ gan mật nguyên phát là một bệnh gan tiến triển mãn tính. Ðây là một loại bệnh hiếm gặp và thường xảy ra ở phụ nữ. Chưa rõ nguyên nhân, có lẽ là bệnh tự miễn. Acid ursodeoxycholic, là một loại acid mật tự nhiên có một tỷ lệ nhỏ trong dịch mật của người, là điều trị duy nhất được chấp nhận hiện nay. Báng bụng, giãn tĩnh mạch thực quản hoặc bệnh não do gan là các biến chứng của xơ gan mật nguyên phát. Người ta cũng đưa ra cách điều trị bằng chế độ ăn cho bệnh xơ gan. Những bệnh nhân xơ gan bị ngứa rất nhiều và triệu chứng này thường khỏi khi được điều trị bằng các thuốc làm thoát dịch mật xuống ruột. Việc tiêu hóa và hấp thu các chất béo trong chế độ ăn bình thường không thể thực hiện được nếu không có mật, nhiều bệnh nhân cần "chế độ ăn có MCT" . MCT có nghĩa là triglycerides chuỗi trung bình (medium-chain triglycerides). Nếu bệnh nhân không được dùng "chế độ ăn có MCT" thì không thể hấp thu được các chất béo đã được tiêu hóa. Hậu quả là bị thiếu năng lượng và đi cầu phân mỡ. Hấp thu các chất béo MCT không cần phải có các acid mật. Có thể dùng chất béo MCT dạng bơ thực vật (Ceres MCT diet margarine) và dạng dầu ăn (Ceres MCT diet edible oil) sản phẩm của các nhà máy thực phẩm của Cộng hòa Liên bang Ðức (tra phần phụ lục để biết địa chỉ của các nhà máy này).
Thông thường thì cần dùng thêm các vitamins tan trong mỡ (A, D, E, K). Nếu có bị loãng xương thì bổ sung thêm vitamin D và can - xi.

1.2.3 Tiểu đường trên bệnh nhân xơ gan

Gần nửa số bệnh nhân có kèm thêm bệnh tiểu đường. Ðối với bệnh nhân tiểu đường phải đặc biệt lưu ý số lượng carbohydrates trong khẩu phần và tuân thủ nghiêm chỉnh chế độ ăn. Nhóm bệnh nhân này cần được các chuyên gia tiết chế tư vấn. Bệnh nhân tiểu đường cần tham khảo bảng đối chiếu giữa carbohydrates và các chất dinh dưỡng có năng lượng tương đương. Bệnh nhân có thể nhận bảng đối chiếu này của Công ty VFED đã được đăng ký bản quyền. Ðối với bệnh nhân vừa bị xơ gan và tiểu đường thì chất xơ trong chế độ ăn quan trọng gấp 2 lần hơn so với bệnh nhân chỉ bị xơ gan. Chất xơ sẽ làm chậm sự gia tăng đường huyết sau khi ăn nhiều carbohydrates. Trong bất kỳ trường hợp nào thì bệnh nhân xơ gan kèm tiểu đường cũng nên được tham vấn cẩn thận về chế độ ăn.

1.2.4 Triệu chứng của xơ gan

Triệu chứng bệnh xơ gan thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh. Tổn thương đến 80% tế bào gan thì gan vẫn còn khả năng bù trừ và giữ nguyên các chức năng. Trong giai đoạn đầu, các triệu chứng thường là do phản ứng viêm tại gan. Sự tăng tạo các mô liên kết làm giảm chức năng của gan. Dòng máu qua gan bị cản trở do đó làm áp lực máu trong hệ tĩnh mạch cửa tăng lên. Gia tăng áp lực máu trong hệ tĩnh mạch cửa gây ra rối loạn chức năng ruột (sình bụng) và có thể gây ra báng bụng do thoát dịch từ lòng mạch vào trong ổ bụng.
Trong giai đoạn xơ gan tiến triển, nồng độ protein máu (albumin) giảm xuống. Và các tuần hoàn nối tắt (tuần hoàn bàng hệ) xuất hiện là hậu quả của gia tăng trở lực đối với dòng máu qua gan. Các tuần hoàn bàng hệ thường được tạo ra quanh dạ dày và thực quản (gọi là giãn tĩnh mạch thực quản). Các mạch máu tại đây dãn rộng và dễ bị chảy máu.
Nếu số lượng tế bào gan bị hủy hoại tăng thêm nữa thì tình trạng xuất huyết có thể xảy ra thường xuyên hơn do giảm tổng hợp các yếu tố đông máu. Và các xuất huyết này khó cầm được. Giảm số lượng tế bào gan có chức năng cũng làm tăng các độc chất trong cơ thể. Và do có các tuần hoàn nối tắt mà các độc chất này có thể lên não gây tổn thương não. Hậu quả là bệnh nhân bị bệnh lý não do gan. Các chuyên gia ước đoán rằng có khoảng nửa số bệnh nhân xơ gan sẽ diễn tiến đến bệnh cảnh bệnh lý não do gan (vào khoảng 300.000 - 400.000 / 800.000 bệnh nhân xơ gan). Khi nồng độ các độc chất tăng hơn nữa thì sẽ xảy ra hôn mê gan. Và diễn tiến nặng hơn nữa, tỷ lệ các acid amin trong máu thay đổi và làm rối loạn chức năng não.

1.2.4.1 Báng bụng

Báng bụng là tình trạng tăng tích tụ dịch trong các khoang tự do của ổ bụng. Dòng máu qua gan bị cản trở do tăng tạo mô liên kết của các tế bào gan. Quá trình này làm tăng áp lực tĩnh mạch cửa và dẫn đến thoát dịch vào ổ bụng. Dịch báng gia tăng còn do sự mất cân đối protein (giảm albumin). Hậu quả của thiếu protein là dịch trong lòng mạch dễ thoát vào ổ bụng hơn nữa. Vì albumin là protein do gan tạo thành do đó nhiều bệnh nhân được truyền albumin người để bù lại sự thiếu hụt albumin. Rối loạn cân bằng các chất khoáng và hormone càng làm nặng thêm tình trạng báng bụng.

1.2.4.2 Kém dung nạp

Gan to ra, các cấu trúc trong gan thay đổi và áp lực tĩnh mạch cửa tăng lên gây ảnh hưởng lên chức năng tiêu hóa của ruột. Hậu quả là kém dung nạp thức ăn và các triệu chứng chuyên biệt sau đây có thể xảy ra:


- Cảm giác đầy hơi
- Ăn không ngon
- Ðau bụng
- Trướng bụng
Kém dung nạp thức ăn thay đổi tùy từng người. Thực hiện bảng tường trình chế độ ăn và tuân theo một chế độ ăn nhẹ bình thường đã được chứng minh rằng có giá trị đối với việc nhận ra được các thức ăn bị kém dung nạp.

1.2.4.3 Giãn tĩnh mạch thực quản

Dễ thấy rằng dòng máu chảy qua khối gan bị xơ hóa sẽ khó hơn là chảy qua gan bình thường. Dòng máu từ gan chảy qua tĩnh mạch cửa, đến tĩnh mạch gan rồi đổ vào tĩnh mạch chủ dưới vì vậy cần có tuần hoàn nối tắt để giảm áp lực trong các tĩnh mạch. Gan sẽ nối tắt vào các tuần hoàn bên cạnh. Các tuần hoàn bàng hệ này tạo ra các mạch máu có thành mạch mỏng hay nói cách khác là chỉ chuyển tải được một lượng nhỏ máu. Các mạch máu này thường dễ bị căng trướng và vỡ ra. Các tuần hoàn bàng hệ thường được thành lập quanh dạ dày và thực quản, được gọi là giãn tĩnh mạch thực quản. Các mạch máu tại vị trí giãn tĩnh mạch thực quản dễ vỡ ra và có thể đưa đến xuất huyết nặng gây nguy hiểm. Hấp thu một lượng quá nhiều protein trong thức ăn cũng có thể làm cho áp lực trong hệ thống tĩnh mạch cửa tăng lên và tạo điều kiện cho xuất huyết từ tĩnh mạch bị giãn. Ðiều trị bằng các thuốc ức chế be ta làm giảm áp lực mạch máu và có thể dự phòng được xuất huyết. Ðiều trị chảy máu cấp do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản còn có biện pháp chích xơ. Và cứu cánh sau cùng là phẫu thuật tạo nối tắt ( tạo shunt - tạo đường nối tắt giữa các mạch máu), ví dụ như nối cửa - chủ (nối tịnh mạch cửa vào tĩnh mạch chủ và không qua gan) hoặc tạo shunt tĩnh mạch cửa trong gan - tĩnh mạch cảnh. Tuy nhiên trong hiệu quả làm giảm nguy cơ chảy máu lại gia tăng nguy cơ gây bệnh lý não do gan. Dòng máu từ ruột không đi qua gan sẽ bị giảm đi việc khử các độc chất, vì vậy các độc chất này có thể lên não được. Và điều này thúc đẩy bệnh lý não do gan xảy ra.
Áp lực trong tĩnh mạch thực quản sẽ tăng lên sau một bữa ăn "đầy ắp". Do vậy chia một bữa ăn nhiều thành 6 bữa ăn nhỏ hơn sẽ tốt hơn cho bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thực quản.

1.2.4.4 Các yếu tố đông máu

Xơ gan tiến triển làm giảm tổng hợp các yếu tố đông máu, làm tăng nguy cơ xuất huyết.

1.2.4.5 Thay đổi chuyển hóa protein

Các tế bào gan bình thường bị hủy hoại làm giảm tổng hợp protein. Hậu quả đưa đến tăng tích nước trong mô (vì protein làm đẩy nước vào máu tuần hoàn). Bệnh nhân xơ gan thường bị giảm albumin. Việc khử các độc chất được tạo thành trong quá trình chuyển hóa protein và các độc chất khác bị giảm sút.

1.2.4.6 Hoạt động khử độc của gan

Nồng độ NH3 trong máu tăng lên do gan giảm hoạt động khử độc. Ðo nồng độ NH3 trong máu bệnh nhân xơ gan để đánh giá lượng NH3 không bị khử. Gan khỏe mạnh sẽ dễ dàng chuyển hóa các NH3 có độc tính thành urea và thải ra ngoài qua đường thận. Ở bệnh nhân xơ gan tiến triển, nồng độ trong máu của các sản phẩm phân hủy tại ruột có độc tính (NH3, phenols, indoles và amines) cũng tăng lên. Các chất này được tạo thành trong ruột khi protein được các vi khuẩn phân hủy. Gan khỏe mạnh sẽ khử tốt các độc chất này. Khi gan bị xơ thì do có các tuần hoàn bàng hệ mà các độc chất này được đưa vào máu tuần hoàn và không bị gan khử độc, do đó nồng độ các độc chất này trong máu sẽ gia tăng lên. Và khi nồng độ của các độc chất trong máu đạt đến một mức nhất định thì chức năng não sẽ bị ảnh hưởng. Khởi đầu, bệnh nhân bị run tay (dấu run vẫy), thay đổi mức độ tỉnh táo, rối loạn sự phối hợp vận động, bệnh nhân sẽ bị mệt và phản ứng chậm đi. Bệnh nhân thường không đủ khả năng điều khiển xe. Mức độ nhiễm độc chất không được khử có thể dễ nhận biết mỗi ngày bằng cách đánh giá nét chữ viết tay. Khi não có biểu hiện nhiễm độc gọi là bệnh lý não do gan. Và chất độc không được khử càng nhiều sẽ dẫn đến hôn mê gan.

Nồng độ bình thường của NH3 trong máu:
1-55μmol/L hoặc 20-94μg/dL (μ = micro


1.3 Chế độ ăn cho bệnh nhân xơ gan

Tầm quan trọng của chế độ ăn cho bệnh nhân xơ gan vẫn chưa được nhận thức đúng đắn. Một chế độ ăn mà "gan chấp nhận được" cũng cần như là uống thuốc vậy. Có nhiều bệnh nhân ra viện mà vẫn không được tư vấn ban đầu nào của chuyên viên dinh dưỡng. Hướng dẫn cho từng bệnh nhân chế độ ăn mà bệnh nhân có thể hiểu được là rất cần thiết vì nếu không bệnh nhân sẽ không biết được một chế độ ăn đúng đắn.
Trong thời gian mà gan còn thực hiện được các chức năng (xơ gan còn bù) thì không cần theo một chế độ ăn điều trị tuy nhiên cũng cần có một chế độ ăn hợp lý và tuyệt đối không uống rượu.
Ðối với bệnh nhân xơ gan, các chế độ ăn điều trị chuyên biệt chỉ cần khi bệnh nhân có các biểu hiện của bệnh lý não do gan và khi có báng bụng. Trước khi cần chế độ ăn điều trị thì phải thực hiện chế độ ăn nhẹ bình thường (tránh các loại thức ăn và các cách chế biến làm bệnh nhân khó dung nạp) và tuyệt đối cữ rượu.
Hàm lượng protein trong thức ăn không được nhiều quá. Không nên ă? quá nhiều protein, ví dụ ăn nhiều sữa đặc là không nên. Trước kia, bệnh nhân xơ gan thường được khuyên ăn nhiều sữa đặc mỗi ngày - lời dặn dò thường gặp của các bác sĩ. Lời khuyên này giờ đây không được xem là đúng nữa và đã bị bỏ qua, vì các sản phẩm có tính độc được tạo thành trong chuyển hóa protein mà bình thường các chất này bị gan khử độc sẽ đẩy nhanh sự rối loạn các chức năng còn lại của gan. Lượng protein ăn vào mỗi ngày không quá 1g/kg cân nặng. Do đó, thường là bệnh nhân nên ăn khoảng 60 - 80g protein mỗi ngày. Hàm lượng protein có trong các loại thức ăn được tra cứu dễ dàng trong bảng giá trị dinh dưỡng.

1.3.1 Các điểm chính yếu của chế độ ăn nhẹ bình thường

Chế độ ăn nhẹ bình thường đang thay thế cho "các chế độ ăn bảo vệ phủ tạng" quá khắt khe mà lâu nay vẫn áp dụng cho các bệnh nhân bị các bệnh gan, tụy, dạ dày, bệnh túi mật hoặc bệnh ruột.
Chế độ ăn nhẹ là một loại chế độ ăn không có tác dụng điều trị. Chế độ ăn này chỉ giúp cho bệnh nhân tránh được đầy hơi, đau bụng, buồn nôn, sình bụng hoặc tiêu chảy có thể xảy ra sau bữa ăn.
Nếu bạn không dung nạp được thức ăn thì nên tránh những thức ăn mà theo ý kiến riêng của bạn là có thể gây ra các triệu chứng tiêu hóa. Lời khuyên của các chuyên gia tiết chế có thể giúp ích cho bạn trong trường hợp bị kém dung nạp. Việc này xảy ra ở một vài bệnh nhân không thể dung nạp được một vài thức ăn đặc biệt hoặc vài món ăn nào đó. Danh sách các thức ăn, món ăn bị cấm thường được cho liên quan đến rối loạn dung nạp hiện nay đã được thay thế và không nên phân phát ra nữa. Ðể xác định xem thức ăn nào bạn có thể dùng và thức ăn nào là không tốt cho bạn, bạn nên dùng bảng tường trình chế độ ăn để bảng này giúp bạn tìm được lời giải đáp. Ghi vào đó những gì mà bạn ăn vào, không có hoặc có triệu chứng gì xảy ra sau đó. Sau một thời gian ngắn bạn sẽ lập ra được danh mục thức ăn cho riêng bạn.
Khi bắt đầu, bạn nên chú ý đến các thực phẩm nêu dưới đây vì chúng được thống kê là gây ra sự không dung nạp cho nhiều bệnh nhân:

Rượu (wine)
Rượu mạnh (spirits)

Trà/cà phê đậm (strong tea/coffee)

Ðậu phộng (nuts)
Các xốt kem (cream)

Trái cây sống có lõi cứng (raw fruit with a core or stone)

Bắp cải trộn (coleslaw)

Rau trộn khoai tây (potato salad)

Trứng luộc quá chín (hard-boiled egg)

Xương giò heo băm (Eisbein - pickled knuckle of pork)

Các thức ăn béo chiên khét, xông khói, tẩm nhiều gia vị (highly seasoned, smoked, deep-fried and fatty foods)

Ðậu (pulses)

Dưa chuột chưa nấu chín (gherkin)

Bắp cải trắng (white cabbage)

Bắp cải (cabbage)

Ớt đỏ Hung - ga - ri (paprika)

Bắp cải xé tơi (pickled cabbage-Sauerkraut)

Củ hành (onions)

Bắp cải lá xoăn (savoy)

Nấm (mushrooms)
Tỏi (leek)
 

Tránh tất cả thức ăn mà bạn không thể dung nạp. Ðừng tin vào bất cứ sách nào. Chính bạn mới là người quyết định bạn nên ăn hoặc không nên ăn những món nào.
 

 
1.3.2 Các chỉ định điều trị tiết chế khởi đầu

Các điều trị tiết chế bắt đầu khi có các triệu chứng xơ gan mất bù.

Các triệu chứng này là:
- Diễn tiến tăng dần của báng bụng hoặc phù
- Xuất huyết do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản
- Các triệu chứng của bệnh não do gan (giảm các chức năng não)

Các phương thức trong điều trị tiết chế là:
- Giảm protein và chọn đúng loại protein cần thiết
- Dùng các amino acids chuỗi bên có phân nhánh
- Giảm muối ăn vào
- Giảm dịch đưa vào cơ thể
- Ăn nhiều kali
- Ăn nhiều chất xơ
 - Ăn nhẹ.
Mục tiêu của điều trị tiết chế là:
- Ngừa hoặc làm cải thiện bệnh lý não do gan (duy trì chức năng não) bằng cách giảm protein ăn vào.
- Cân bằng tỷ lệ các amino acids bằng cách dùng thêm các amino acids chuỗi bên có phân nhánh và giảm các amino acids có mùi thơm.
- Kiểm soát được tình trạng báng bụng và phù bằng chế độ ăn ít muối, giảm nước nhập và bù ka li.
- Bảo vệ tĩnh mạch thực quản bằng thức ăn đã được nghiền hoặc thức ăn lỏng.

1.3.3 Cung cấp năng lượng

Khoảng 70% bệnh nhân mắc bệnh gan mãn tính đã có một chế độ ăn sai lầm. Các điều tra cho thấy rằng có nhiều bệnh nhân xơ gan không được dinh dưỡng đúng mực. Và phải nhớ rằng cho dù bệnh nhân có nhẹ cân vẫn cần thiết làm tăng các mô mỡ và giảm khối lượng cơ. Bệnh nhân đạt hiệu quả là người có bụng phệ (mô mỡ và/hoặc dịch báng) và tay chân gầy (ít cơ). Dường như các bệnh nhân chỉ được chú ý cho ăn tốt. Các nguyên nhân của tình trạng dinh dưỡng kém là do bệnh nhân sợ ăn phải các thức ăn không đúng, có các chế độ ăn không phù hợp, sử dụng ít loại thực phẩm và có nhu cầu năng lượng cao. Khi có báng bụng và phù thì nhu cầu năng lượng đặc biệt tăng cao. Nếu quá cân ở mức độ nhẹ thì không cần giảm cân. Nhu cầu năng lượng có thể tính theo công thức sau:

Nhu cầu năng lượng trong khi nằm viện
Cân nặng bình thường (chiều cao tính bằng centimetres trừ đi 100) x 35
= nhu cầu năng lượng mỗi ngày (tính bằng kilocalories)
Nhu cầu năng lượng cho các hoạt động nhẹ nhàng tại nhà
Cân nặng bình thường (chiều cao tính bằng centimetres trừ đi 100) x 38
= nhu cầu năng lượng mỗi ngày (tính bằng kilocalories)
Nhu cầu năng lượng trong khi nằm viện
Cân nặng bình thường (chiều cao tính bằng centimetres trừ đi 100) x 35
= nhu cầu năng lượng mỗi ngày (tính bằng kilocalories)
 

Ví dụ:
Một người đàn ông cao 174cm cần 2.600 kilocalories trong bệnh viện (174-100 = 74, 74x35 = 2590 kcal).

Công thức này bao gồm các yếu tố an toàn. Công thức này cũng áp dụng cho bệnh nhân dư cân mà không có nhu cầu giảm calories. Cung cấp năng lượng cho bệnh nhân xơ gan mất bù chỉ cần các chất béo và carbohydrates. Protein chứa trong các thức ăn béo và carbohydrates phải được tính vào khẩu phần ăn. Một điểm cần chú ý là chỉ các thức ăn nhiều chất béo có nguồn gốc động vật có thể được chọn dùng trong bất kỳ trường hợp nào kém dung nạp protein. Ví du như phô mai nhiều chất béo sẽ chứa ít protein hơn là phô mai có ít chất béo. Không nên cho bệnh nhân ăn bơ.
Sự cung cấp năng lượng ngừa sự sử dụng năng lượng thường lấy từ các mô cơ thể (ví dụ mô cơ) hoặc sự tạo ra nhu cầu protein. Nếu các mô cơ thể bị phân hủy để tạo năng lượng, các bác sĩ gọi đây là tình trạng dị hóa, và có dị hóa là có sụt cân. Khi các chất nội sinh trong cơ thể bị phân hủy thì nồng độ NH3 tăng lên. Và điều này lại thúc đẩy bệnh cảnh bệnh não do gan.

Ðể cung cấp năng lượng, các thức ăn sau đây là phù hợp:

Glucose

Người ta thường vẫn nghĩ rằng glucose là chất ngọt thay thế sucrose. Glucose chỉ chứa ? lượng đường so với sucrose. Bạn có thể ăn gấp đôi để đủ năng lượng nếu bạn muốn dùng glucose thay thế cho sucrose. Có thể mua glucose (tên thương mại là "Dextroplus") ở các cửa hàng bánh kẹo hoặc nhà thuốc.

Maltodextrin 19

Maltodextrin 19 là một loại gia vị trung tính lấy được từ bột bắp. 1g Maltodextrin chứa 3.8 kilocalories. Maltodextrin được cơ thể hấp thu và sử dụng dễ dàng. Bạn có thể cho Maltodextrin vào thức ăn nóng hoặc lạnh, trong các món ăn cay hoặc ngọt. Không cho quá 10g Maltodextrin vào mỗi 100g thức ăn. Maltodextrin 19 có thể mua ở nhà thuốc.

Sonana Renamil

Sonana Renamil là nguồn cung cấp năng lượng với hàm lượng protein thấp, cũng có thể dùng cho bệnh nhân bệnh thận. Sonana Renamil có thể dùng chung với thức ăn một cách dễ dàng (ví dụ trộn vào thức uống có sữa, bánh thạch sữa, bánh bông lan, bánh cake hoặc bánh ngọt) và cung cấp 468 kcal/100g Sonana Renamil (và chỉ chứa 4.7g protein). Thành phần protein rất thuận tiện sử dụng cho bệnh nhân xơ gan. Sonana Renamil là sản phẩm của nhà máy NephroMed Bartz GmbH, H?tenberg), được bán theo toa tại nhà thuốc.

3 loại thức ăn vừa gợi ý trên đây không có ích cho bệnh nhân tiểu đường. Ðường huyết sẽ tăng rất nhanh sau khi sử dụng glucose, maltodextrin và Sonana Renamil. Những thực phẩm này chỉ nên dùng khi theo dõi cẩn thận lượng đường huyết và liểm soát được đường huyết.

Bơ, dầu thực vật

Chất béo là thức ăn giàu năng lượng nhất vì mỗi gram chất béo sẽ cung cấp 9 kilocalories. Ví dụ, để có nhiều năng lượng thì một cái bánh thạch sữa có thể được làm với kem tươi thay vì trộn với sữa. Năng lượng trong món súp và sốt có thể được làm tăng lên bằng cách trộn thêm bơ và dầu thực vật. Khoai tây nghiền với kem tươi và bơ thì quả đúng là một quả bom năng lượng. Vấn đề đặt ra là sử dụng chất béo cho các bệnh nhân đã có hàm lượng chất béo trong máu rất cao; trong trường hợp này thì không nên cho bệnh nhân dùng bơ và kem tươi. Tuy nhiên bệnh nhân bị xơ gan thì hiếm khi bị tăng cholesterol trong máu. Lượng mỡ dùng nên hạn chế khi bệnh nhân bị kém hấp thu. Trong một khẩu phần kiêng protein, cần nhấn mạnh là các thực phẩm nguồn gốc động vật là nguồn chứa protein đồng thời cũng chứa rất nhiều chất béo cung cấp năng lượng cao. Các nghiên cứu đã chỉ cho thấy rằng khẩu phần ăn có nhiều chất béo dễ làm tăng cân hoặc giữ cân hơn là khẩu phần giàu carbohydrate.

Thực phẩm nhân tạo (chế độ ăn lỏng/ăn qua ống)

Ðối với những bệnh nhân không thể ăn được thì sẽ không ăn hoặc không thể ăn đủ nhu cầu vì vậy cần có chế độ ăn lỏng đặc biệt. Những thực phẩm dinh dưỡng dạng lỏng chứa các thức ăn thiết yếu và chỉ với các chất này đã có thể là một chế độ ăn. Cần phải nhớ rằng nhiều thức ăn loại này chứa rất nhiều protein. Có 2 loại thức ăn được thiết kế để đạt yêu cầu của bệnh nhân xơ gan. Các thực phẩm này với tỷ lệ cao các acide amines chuỗi phân nhánh là nguồn protein. Ðể có thêm thông tin về các chế độ ăn lỏng, cần hỏi bác sĩ, dược sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng của bạn.

Cũng có các thực phẩm tiết chế thích hợp để bù các chất bị thiếu và hơn nữa l&ag

DaewoongURSA-S hiện đang có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Chi tiết thông tin về sản phẩm, vui lòng liên hệ hotline: * Hồ Chí Minh: 08.3526 5751 * Hà Nội: 04.2216 2259 * Đà Nẵng: 0511. 2460602
Chỉ định:<

    Theo thông tin mới nhất từ Hội ung thư toàn cầu, Việt Nam đứng thứ 2 về ung thư gan, trong đó 90% do viêm gan B gây ra. Viêm gan virút phổ biến bao gồm 6 loại sau: viêm gan A, B, C, D, E, G., D, E, G.
Triệu chứng: Triệu chứng của viêm gan thường không biểu hiện rõ, tuy nhiên nên chú trọng khi các hiện tượng sau xảy ra: Mệt mỏi, chán ăn, giảm cân hay đau hạ sườn phải.

Một số người có thể xuất hiện triệu chứng giống như khi bị cúm, kèm với sốt, nước tiểu sẫm màu hay phân bạc màu. Thông thường, rất hiếm trường hợp nhiễm viêm gan bị chứng vàng da hay vàng ở mắt.

Viêm gan thường rất khó phát hiện và thường chỉ biết được khi xét nghiệm máu.
Khả năng lây lan: Qua kim tiêm, dùng chung bấm móng tay, giũa móng tay và bàn chải đánh răng.

Virút có thể lây từ người này qua người khác thông qua hoạt động tình dục, qua tiếp xúc thông thường hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với máu của người bị nhiễm hay các sản phẩm từ máu.

Bệnh cũng có thể lây từ mẹ sang con trong quá trình nuôi con bằng sữa hay khi sinh đẻ.

Ý thức về bệnh tật: Viên gan B và viêm gan C mãn tính là hai loại viêm gan phổ biến nhất trong tất cả các loại viêm gan. Nếu bệnh không được phát hiện kịp thời, gan của người bệnh có thể bị phá hủy dẫn tới xơ gan, ung thư gan.

Viêm gan được coi là viêm gan mãn tính nếu bệnh bị nhiễm được hơn 6 tháng. Viêm gan A là loại viêm gan nhẹ nhất trong tất cả các loại viêm gan.

Trên thế giới đã có nhiều bước tiến bộ trong việc sử dụng thuốc miễn dịch để điều trị và phòng ngừa các biến chứng của viêm gan virút.

Tuy nhiên, khi bệnh nhân đã có những biến chứng của viêm gan virút như xơ gan, suy gan, ung thư gan, việc điều trị sẽ trở nên khó khăn hơn và đòi hỏi bệnh nhân phải được chăm sóc toàn diện.

Virút viêm gan B là chủng virút gây ra những tổn thương nghiêm trọng nhất cho sức khỏe của bệnh nhân. Ước tính 1/3 dân số thế giới nhiễm vi rút viêm gan B, trong đó có 400 triệu người mắc virút viêm gan B mãn tính, 80% số người nhiễm virút viêm gan B sống ở Châu Á hay là những người gốc Á.

Còn đối với viêm gan C, khoảng 85% số người nhiễm bị viêm gan mạn tính, trong đó 20% tiến triển thành xơ gan. Trong số những người bị xơ gan, một nửa tiến triển thành suy gan hoặc ung thư gan.

Xơ gan thường gặp ở những người uống nhiều rượu, có thể kèm hút thuốc lá và viêm gan B, C hoặc cả 2.

Điều trị xơ gan thường bắt đầu từ nguyên nhân gây bệnh đó là cai rượu, giải độc, thuốc bảo vệ tế bào gan và đặc biệt là chế độ dinh dưỡng. Ngoài điều trị nguyên nhân xơ gan, bác sĩ sẽ chú trọng vào việc ngăn ngừa hoặc cải thiện biến chứng.

Khi không thể kiểm soát được các biến chứng hoặc chức năng gan suy nặng thì bệnh nhân cần điều trị bằng các biện pháp tích cực hơn.

Ung thư gan là một biến chứng của viêm gan mạn tính và xơ gan. Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) vẫn là một trong những loại ung thư ác tính nhất hiện nay ở Châu Á. Phần lớn các bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan (80%) đều kèm theo xơ gan.

Ngày nay, có rất nhiều phương pháp chữa bệnh ung thư biểu mô tế bào gan. Tuy nhiên chỉ có phẫu thuật cắt bỏ hoặc ghép gan mới là biện pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cho những bệnh nhân bị bệnh kéo dài.

Đối với các bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan và xơ gan mất bù (tế bào gan không hồi phục) thì bệnh nhân có thể được điều trị bằng phương pháp cắt bỏ toàn bộ gan kết hợp ghép gan vì chỉ có phương pháp ghép gan mới có tiềm năng chữa khỏi cả khối u và xơ gan.

Nguon tin: Theo_Tien_Phong
     (TNTT>) Hầu hết các trường hợp viêm gan siêu vi đều do một trong năm nguyên nhân sau đây: siêu vi A (HAV), siêu vi B (HBV), siêu vi C (HCV), siêu vi D (HDV), siêu vi E (HEV).
Kiểm tra thuốc trong phòng thí nghiệm

Trong đó người bị nhiễm siêu vi viêm gan B và siêu vi viêm gan C có nguy cơ cao bị nhiễm cấp hoặc sẽ chuyển sang nhiễm trùng mãn tính không có biểu hiện; nguy hiểm nhất là có thể dẫn đến suy gan, xơ gan và ung thư gan.

Viêm gan do siêu vi A và siêu vi E chỉ gây viêm gan cấp sau đó bệnh tự khỏi, mặc dù có 1-2% trường hợp có biểu hiện suy gan tối cấp. Bệnh nhân có bệnh xơ gan hay suy gan do nguyên nhân khác sẽ gặp bất lợi hơn về sức khỏe nếu bị nhiễm thêm 2 siêu vi này.

Biểu hiện bệnh

Theo bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Cẩm Hường, bộ môn nhiễm (đại học Y dược TP.HCM), thể không triệu chứng của bệnh viêm gan siêu vi nhiều hơn thể có triệu chứng từ 10-30 lần. Triệu chứng có thể là chán ăn, mệt mỏi, đau cơ đau khớp, vàng da, vàng mắt…

Tuy nhiên, thông qua xét nghiệm máu, bác sĩ sẽ dễ dàng phát hiện ra bệnh nhân có nhiễm siêu vi viêm gan hay không thông qua nồng độ men gan hay lượng kháng thể trong máu.

Đặc điểm các bệnh viêm gan siêu vi

1. Viêm gan siêu vi A: bệnh lây qua đường tiêu hóa hay lây do tiếp xúc với người nhiễm siêu vi A trong gia đình. Bệnh này có thể tự khỏi.

Những đối tượng như: những người chích ma túy, người có bệnh lý gan mãn tính, đồng tính… nên chủng ngừa đề phòng nhiễm siêu vi A. Thuốc chủng ngừa có thể bảo vệ sau 6 tuần và kéo dài 20 năm.

2. Viêm gan siêu vi B: Siêu vi B lây truyền qua truyền máu, tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục và lây từ mẹ sang con, tức là lây truyền thông qua máu và dịch tiết của người bệnh.

Theo bác sĩ Hường, tỷ lệ chuyển từ viêm gan siêu vi B mãn tính sang xơ gan là 2-9% một năm, nguy cơ tiến triển thành ung thư gan là 0,5-1% nếu người mang siêu vi không có biểu hiện xơ gan và 2,5-3% nếu bệnh nhân bị xơ gan.

Bác sĩ Hường cũng khẳng định, bệnh viêm gan siêu vi B mãn tính hiện nay có thể chữa được nếu phát hiện kịp thời. Hiện nay, bệnh viêm gan siêu vi B có thể phòng ngừa hiệu quả bằng chủng ngừa vắc-xin, hiệu quả bảo vệ của thuốc chủng ngừa 80-90% kéo dài ít nhất là 5 năm.

3. Viêm gan siêu vi C: Lây qua đường máu, từ mẹ sang con. Viêm gan siêu vi C thường không có triệu chứng và 80-90% sẽ chuyển thành mãn tính, sau 10-30 năm diễn tiến thành xơ gan, ung thư gan.

Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa viêm gan siêu vi C nhưng bệnh này có thể điều trị khỏi nếu phát hiện kịp thời.

4. Viêm gan siêu vi E: Bệnh này lây qua đường tiêu hóa, có thể tự khỏi tuy nhiên gây tử vong 10-20% trường hợp nhiễm ở phụ nữ có thai, đặc biệt trong 3 tháng cuối thai kỳ.

Cho đến nay vẫn chưa có thuốc chủng ngừa siêu vi E, biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất là cải thiện nguồn nước và vệ sinh an toàn thực phẩm.   

Theo: Thanh nien online
    Gan là một trong những cơ quan có vai trò sống còn đối với cơ thể con người. Gan được coi như một nhà máy hoạt động suốt 24 giờ lọc tinh chế, chuyển hóa các chất giúp loại bỏ chất độc ra khỏi máu và là nơi dự trữ năng lượng tổng hợp các chất, đồng thời gan còn có vai trò giúp tiêu hóa thức ăn bằng cách tạo ra dịch mật. Về phương diện sinh lý, gan vừa là một tuyến ngoại tiết và là một tuyến nội tiết.

 

Có rất nhiều bệnh lý ở gan do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra nhiễm độc gan như nhiễm virut - vi khuẩn, ký sinh trùng (sán lá gan, amip); uống rượu nhiều; gan nhiễm mỡ; gan nhiễm độc: độc tố nấm mốc aflatoxin, chất độc màu da cam dioxin.

Tất cả các thuốc đều được chuyển hóa qua gan vì vậy gan cũng là cơ quan dễ bị tổn thương nhất.
Khi bệnh nhân bị bệnh gan mật dùng thuốc phải theo một số nguyên tắc sau:

- Tránh dùng các thuốc gây độc cho gan kể cả thuốc đông y hay thuốc Tây y. Một số thuốc làm cho bệnh gan nặng lên (thuốc an thần, thuốc giảm đau paracetamol, thuốc điều trị lao...).

- Cần làm các xét nghiệm chức năng gan để chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh trước khi dùng thuốc.
- Thường xuyên theo dõi sát quá trình sử dụng thuốc để ngừng hoặc điều chỉnh liều kịp thời tránh nguy hiểm cho người bệnh.
- Không dùng thuốc không rõ nguồn gốc.
- Không tự ý dùng thuốc, cần phải có sự chỉ định và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa.

Khi gan bị tổn thương do các nguyên nhân dẫn đến thay đổi enzym, giảm sút chức năng gây hoại tử, xơ gan, ung thư gan, phải tìm nguyên nhân để dùng thuốc điều trị: viêm gan do virut B-C thì phải dùng thuốc ức chế việc nhân lên của virut. Nhiễm độc gan do hóa chất, do dùng thuốc phải ngừng tiếp xúc, ngừng dùng và tìm các thuốc giải độc đặc hiệu. Bên cạnh các thuốc chống lại hoặc kìm chế các nguyên nhân còn có các thuốc hỗ trợ chức năng gan nhưng mỗi thuốc cũng có một số nét riêng. Trong mỗi trường hợp cụ thể cần chọn dùng một loại thích hợp. Không nên xem là thuốc bổ gan chung chung mà dùng tùy tiện vì các thuốc này không thể thay thế được các thuốc chữa nguyên nhân.

Thời điểm thích hợp nhất dùng thuốc bổ trợ chức năng gan là sau khi đã dùng thuốc chữa nguyên nhân, bệnh đã ở trạng thái ổn định hoặc tương đối ổn định. Vì bất cứ thuốc nào khi vào cơ thể đều buộc gan phải làm việc. Khi bệnh gan đang tiến triển hay xơ gan phải thận trọng hoặc không nên dùng thuốc tăng cường chức năng gan (sẽ tăng thêm gánh nặng cho gan).

Khi enzym gan (ALT) tăng cao bất thường. Chức năng gan bị giảm sút mới dùng thuốc hỗ trợ chức năng gan, khi gan đã trở lại trạng thái bình thường thì ngừng thuốc. Không nên xem là thuốc bổ gan mà dùng tùy tiện cho mọi trường hợp.

BS. Trần Thị Minh Phương
     Thực đơn thông thái có thể chữa các loại bệnh gan như: Vàng da, Xơ gan, Viêm gan do virus.
Thuc an chua benh gan
Đậu xanh, một vị thuốc chữa bệnh vàng da. Ảnh: wikimedia

Công thức 1: Cá chạch 100g, đậu phụ hai miếng. Chạch rửa sạch nhớt, mổ bỏ ruột, cắt thành khúc, đậu phụ thái lát cho thêm muối gừng vào cả hai vị, nấu chín ăn. Chữa vàng da do thấp nhiệt.

Công thức 2: Dây dưa chuột (một cây), trứng gà (một quả). Sắc dây dưa chuột trước bằng hai bát nước, còn một bát. Sau đó đập trứng gà vào đánh đều, đổ vào ăn canh.

Công thức 3: Thịt lợn nạc (60 g), cỏ gà (30g), táo đỏ (4 quả). Thịt lợn nạc rửa sạch, thái miếng, cho vào cùng với cỏ gà, táo đỏ nấu chín, ăn thịt gà và uống hết nước.

Công thức 4: Đậu xanh (30g), đậu đỏ (30g). Rửa sạch cho vào nồi, nấu lên thành canh cho đường trắng vào pha, uống nước thay trà.
Xơ gan

Công thức 1: Dạ dày lợn (một chiếc), cóc (một con). Cóc làm sạch, mổ bỏ nội tạng, lột bỏ da vào trong dạ dày lợn đã làm sạch lấy dây buộc chặt lại. Khi nấu đun nhỏ lửa, chín thì ăn dạ dày và uống canh, chia làm 4 - 6 lần ăn cho hết.

Công thức 2: Đậu xanh (50g), mật lợn (4 cái). Đậu xanh rang, nghiền bột, sau đó cho nước mật lợn vào trộn, viên lại thành viên to bằng hạt đỗ. Mỗi lần ăn từ 6 - 9 gam.

Công thức 3: Thịt lợn nạc (250g), thương lục (10g). Thịt lợn rửa sạch, thái miếng, cho cùng với thương lục vào nồi, đổ nước vào nấu, uống nước. Có thể ăn cả thịt lợn.

Viêm gan do virus

Công thức 1: Cá chạch (hai kg). Trước tiên cho chạch thả vào chậu nước sạch một ngày, sau đó đem hấp chín, sấy khô, tán thành bột, cho vào lọ dùng dần. Mỗi lần ăn ba lần ăn 10 gam, ăn với nước sôi để nguội.

Công thức 2: Dấm (một lít), xương sống lợn tươi (500 gam), đường đỏ (125 g), đường trắng (125 g). Đập nát xương sống ra, trộn đường, dấm cho vào nồi đất, không cho nước, nấu sôi 30 phút, để nguội dùng vải màn sạch vắt nước để dùng dần. Người lớn mỗi lần 30 - 40ml, mỗi ngày ba lần uống, sau khi ăn cơm.

Công thức 3: Rau cần tươi (150 gam), mật ong (50ml). Rau cần rửa sạch giã nát lấy nước, sau đó đổ mật ong vào, cho vào nấu cách thủy 20 phút sau là có thể dùng được.

Công thức 4: Gan lợn (250g), cỏ gà (150g). Gan lợn rửa sạch, cho cả cỏ gà vào nồi nấu chín, bỏ bã cỏ, ăn gan lợn và uống hết nước, chia làm 2 - 3 lần ăn cho hết. Mỗi ngày ăn hai lần vào buổi sáng và tối.

Công thức 5: Táo đỏ (50g), lạc (50g), đường trắng (30g). Táo bỏ hạt, lạc bỏ vỏ, trước tiên nấu lạc cho nhừ, sau đó cho táo đỏ, cuối cùng mới cho đường vào, ăn trước khi đi ngủ, mỗi ngày một lần.

Công thức 6: Ốc đồng (250g), cỏ gà (15g). Ốc nuôi trong nước sạch hai ngày, sau đó rửa sạch, cho vào nồi cùng với cỏ gà nấu lấy nước uống chữa viêm gan mãn tính.

Công thức 7: Gà mái (một con), vừng đen (90 g), trần bì (5 g). Gà làm thịt, bỏ nội tạng, rửa sạch, vừng, trần bì cho vào bụng con gà, ninh chín chia làm vài lần ăn, bài này chữa viêm gan mãn tính.

Theo Tien Phong
 Viên nang URSA-S có hoạt tính thông mật, hoạt hoá Lipase, đẩy mạnh sự bài tiết dạ dày, đẩy mạnh sự hấp thụ và este hoá vitamin B1 và B2, 5 và gia tăng tỷ lệ dự trữ của vitamin C ở các cơ quan trong cơ thể.

Theo tài liệu Tứ Xuyên (Trung Quốc) thành phần chủ yếu của mật gấu gồm axit cholic (UDCA và CDCA), axit amin, sắc tố mật và các nguyên tố vi lượng. Theo "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của giáo sư Ðỗ Tất Lợi, trong mật gấu có cholesterol, sắc tố mật như bilirubin, muối kim loại của các axit cholic. Các axit cholic trong mật gấu có: axit cholic, axit cheno desoxycholic, axit ursodesoxycholic (xin viết tắt UDCA).


Ðiều rất đặc biệt là UDCA chỉ có trong mật gấu ngựa (vào khoảng hơn 20%), mà không có ở động vật nào khác - bởi vậy mà có chữ "urso" (từ chữ urse = gấu). UDCA có độ nóng chảy 202 độ C, độ quay cực + 57.007... Nhờ những đặc điểm này có thể dựa vào phương pháp sắc ký để nhận biết nó, phân biệt với mật của những con vật khác. Cũng trên cơ sở này mà trong dân gian lưu truyền các cách thử để nhận biết mật gấu thật và mật gấu giả.


Các nhà khoa học Nhật Bản là một trong những người đầu tiên phát hiện được UDCA trong mật gấu và xác định được mật gấu có tác dụng tiêu viêm rất mạnh, tác dụng điều trị viêm gan và làm tan sỏi mật và cũng chính các nhà khoa học Nhật Bản là những người đầu tiên tổng hợp được UCDA. Hiện nay Daewoong Pharma - Korea đang dẫn đầu thế giới về UDCA.


Tại nhiều nước châu Âu như Pháp, Anh, Ðức..., nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và cho biết UDCA có tác dụng chống viêm, cải thiện tình trạng xơ gan, giảm thoái hóa gan, làm cho xơ gan không tiến triển thêm. Nhiều người đã công nhận UDCA có tác dụng tốt điều trị bệnh xơ gan, hơn hẳn các dược liệu khác.


Cơ quan quản lý thực phẩm, dược phẩm Mỹ (FDA) cũng đã xác nhận UDCA có tác dụng tốt để chữa bệnh xơ gan, làm tăng khả năng sống và giảm nhu cầu phải ghép gan cho nhiều người bệnh xơ gan. FDA từ lâu đã công nhận và cho phép lưu hành UDCA trên thị trường.


URSA-S (Ursodesoxycholic Acid…50 mg, B1 10mg, B2 5mg) gần đây đã được Bộ Y tế Nhật Bản công nhận là có hiệu quả cải thiện chức năng gan ở bệnh nhân viêm gan C mạn tính (02/03/2007). Theo báo cáo gần đây, URSA-S có tác dụng kép: tăng cường chức năng gan, làm giảm men gan, tăng tác dụng, giảm liều, giảm độc hại của ribavirin khi cùng phối hợp điều trị viên gan C.


Vừa qua, Daewoong Pharma - một nhà sản xuất dược phẩm hàng đầu của Hàn Quốc và là nhà sản xuất UDCA lớn nhất thế giới có đưa sản phẩm URSA-S vào VN, mỗi viên nang URSA-S chứa: Ursodeoxycholic Acid....50mg

B1 10mg
B2 5mg


Cũng như mật gấu, viên nang URSA-S có những tính năng, tác dụng sau:


1. Hoạt tính thông mật

URSA-S có hoạt tính thông mật mạnh bằng cách thúc đẩy sự bài tiết mật và làm gia tăng chức năng của sắc tố mật ở gan. Cũng đã có nhiều ca báo cáo, sử dụng thuốc để điều trị sỏi mật mà không cần đến phẫu thuật vì thuốc có một hoạt tính làm tan sỏi mật thật tuyệt vời.


Hoạt tính làm tan sỏi mật của URSA-S do giảm mức thặng dư cao của Cholesterol, chất này sẽ tạo ra các sản phẩm sỏi mật ở người. Điều này dẫn tới sự thay đổi tỷ lệ của những thành phần Lipid trong acid mật để hoạt hoá tác động hoạt diện của bản thân mật và làm gia tăng khả năng hoà tan sỏi mật Cholesterol.


2. Sự hoạt hoá LipaseUDCA hoạt hoá hoạt tính của lipase, làm giảm sức căng bề mặt của Lipid để rồi este hoá. Hoạt tính này đã được ghi nhận trên một số báo cáo lâm sàng, điều này cho thấy thuốc góp phần vào việc đẩy mạnh chức năng tiêu hoá.


3. Đẩy mạnh sự bài tiết dạ dàyUDCA đẩy mạnh sự bài tiết của dịch dạ dày - ruột và tụy tạng và làm gia tăng thể tích của trypsin, một loại protease. Hoạt tính này đã được ghi nhận trên một số lớn các thử nghiệm lâm sàng. Điều này cho thấy thuốc góp phần cải thiện một số triệu chứng của dạ dày - ruột như là ăn không tiêu và buồn nôn.


4. Đẩy mạnh sự hấp thụ và este hoá vitamin B1 và B2UDCA có một hoạt tính thật tuyệt vời để thúc đẩy mạnh mẽ sự este hoá vitamin B1 và B2 trong acid mật và làm gia tăng giá trị tương đương sinh học của các chất này để phát huy tối đa hiệu quả điều trị của vitamin B1 và B2 trong các trường hợp bệnh gan.


5. Sự gia tăng tỷ lệ dự trữ của vitamin C ở các cơ quanUDCA làm tăng tỷ lệ dự trữ của vitamin C ở cơ quan bằng cách kiểm soát sự bài tiết vitamin C ra ngoài cơ thể.


Với tính những năng tác dụng trên, URSA-S được dùng để chỉ định điều trị cho những bệnh và các triệu chứng sau:


- Điều trị giảm viêm, xơ hoá gan, ALT, AST và GGT tăng: người lớn uống 50mg x 3 lần/ngày
- Ngăn ngừa xơ hoá và ung thư gan/mật do rượu: người lớn uống 50 - 100mg x 3 lần/ngày
- Các chỉ định khác: Các bệnh về nghẽn ống mật và túi mật (sỏi mật cholesterol, viêm túi mật và viêm đường dẫn mật) phụ thuộc vào thiếu bài tiết mật, cải thiện chức năng gan mạn tính và gan nhiễm mỡ, cholesterol máu cao; ghép gan, di chứng của phẫu thuật cắt bỏ ruột, khó tiêu do các bệnh lý ở ruột non, táo bón: Người lớn, liều dùng không quá 200 - 300mg x 3 lần/ngày. Liều dùng có thể thay đổi phụ thuộc vào các triệu chứng và độ tuổi.


Sản phẩm URSA-S hiện đang được phân phối bởi Công ty TNHH Dược phẩm Hi
ệp Bách Niên

   Với hơn 500 chức năng khác nhau, gan được xem là một cơ quan phức tạp và quan trọng bậc nhất của cơ thể. Song nó cũng rất dễ bị tổn thương do nhiều yếu tố rượu bia, siêu vi, khiếm khuyết về di truyền, thuốc, hóa chất, môi trường…
Từ xưa đến nay, theo y học cổ truyền, để bảo vệ gan, mật gấu ngựa luôn được xem là dược liệu quý giá với những tác dụng tuyệt vời trên sức khỏe và gan mật. Nhận thức về tác dụng tốt của mật gấu đã hết sức rộng rãi trong dân chúng, nhất là các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.


Bác sĩ Đinh Dạ Lý Hương tại hội thảo.

Tuy nhiên theo thông tin từ dược sĩ Nguyễn Hương Thảo, Giám đốc chuyên môn của công ty Hiệp Bách Niên, mật gấu đang được khai thác và bán trên thị trường thường không đạt tiêu chuẩn để chữa bệnh, do lẫn lộn giữa mật gấu ngựa và các loại mất gấu khác; chủ yếu là mật xanh, kém chất lượng và chất lượng mật gấu cũng sẽ giảm nếu lấy mật không đúng cách.

Vì sao mật gấu ngựa lại có nhiều công dụng đặc trị, đặc biệt là dành cho các bệnh lý về gan? Đó chính là nhờ axít UDCA, một loại axít mật chỉ có ở mật gấu ngựa. Để hiểu rõ hơn về vai trò của mật gấu ngựa trong điều trị các bệnh lý về gan, tại buổi hội thảo khoa học với chủ đề DaewoongURSA-S - Xu hướng mới trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe do Công ty TNHH Dược phẩm Hiệp Bách Niên tổ chức với sự tham dự của hơn 200 đại diện các nhà thuốc trên địa bàn TP HCM, Phó Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Bay, Trưởng bộ môn Bệnh Học, Phó Trưởng Khoa Y học cổ truyền, Trường ĐH Y Dược TP HCM đã trình bày báo cáo “Vai trò của UDCA - Mật gấu ngựa trong việc bảo vệ sức khỏe theo quan điểm y học cổ truyền” và Thạc sĩ - Bác sĩ Đinh Dạ Lý Hương, Giảng viên trường ĐH Y Dược TP.HCM, Phòng khám Viêm Gan Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP.HCM đã có phần trình bày về “Hiệu quả của UDCA trong việc bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa và điều trị bệnh lý gan mật”.


Cũng tại hội thảo trên, Công ty TNHH Dược phẩm Hiệp Bách Niên - nhà phân phối và tiếp thị các sản phẩm dược có uy tín trên thị trường đã phối hợp với Tập Đoàn Dược Phẩm Daewoong (Hàn Quốc) chính thức giới thiệu và ra mắt sản phẩm Daewoong URSA-S thay thế mật gấu và có tác dụng bảo vệ gan.

Với cùng một lượng UDCA tinh khiết cung cấp cho cơ thể, giá của 1 viên Daewoong URSA-S vẫn thấp hơn rất nhiều so với 250mg mật gấu ngựa khô (tương đương khoảng 1cc mật gấu ngựa tươi nguyên chất). Hơn nữa, Daewoong URSA-S tinh khiết, không chứa các axít gây hại, an toàn, tiện dụng và mang lại hiệu quả kinh tế hơn.

Tổ chức hội thảo Daewoong URSA-S - Xu hướng mới trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe và chính thức giới thiệu sản phẩm Daewoong URSA-S thay thế mật gấu, phục hồi và bảo vệ gan, công ty TNHH Dược phẩm Hiệp Bách Niên và Tập Đoàn Dược Phẩm Daewoong mong muốn đem đến cho người tiêu dùng Việt Nam nhận thức mới về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, đồng thời với việc bảo vệ và duy trì sự sinh tồn của loài gấu, một trong những loài động vật đang có nguy cơ tiệt chủng rất cao và cần được bảo vệ trên thế giới và tại Việt Nam.

Thông tin sản phẩm:

Sản phẩm Daewoong URSA-S (thành phần thuốc bao gồm: U.D.C.A 50mg; Vitamin B1 10mg; Vitamin B2 5mg) được khẳng định về chất lượng tại Hàn Quốc từ năm 1970, được nhập 100% vào Việt Nam vào tháng 7/2007. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh: URSA-S có tác dụng:

Tăng cường sức khỏe, chống mệt mỏi, uể oải
Giảm stress, phòng ngừa loét dạ dày do stress
Phục hồi và bảo vệ gan /trước và sau khi uống rượu
Phục hồi và bảo vệ gan /bệnh gan mãn, viêm gan siêu vi
Giảm cholesterol trong máu, điều trị và ngăn ngừa sỏi mật.
Liều dùng:

- Uống sau bữa ăn

- Một viên nang mềm/lần x 3lần/ngày

URSA-S chống chỉ định:

- Mẫn cảm với TP của thuốc

- Bệnh nhân tắc nghẽn ống mật chủ (ống mật chính)

- Phụ nữ có thai & cho con bú

Giá: 250.000 đồng/hộp.
Xưa nay, theo kinh nghiệm dân gian, mật gấu ngựa vốn được xem là một dược liệu quý giá để chữa bệnh. Tuy nhiên, việc nuôi nhốt và khai thác mật gấu ngựa như hiện nay hoàn toàn thiếu tính nhân văn, không bền vững và đã bị luật pháp nghiêm cấm. Người tiêu dùng nên hướng đến việc sử dụng các sản phẩm thay thế mật gấu, an toàn, kinh tế hơn mà cũng không kém phần hiệu quả.

Gấu nhà đến từ rừng

Việc sử dụng mật gấu chữa bệnh có ở Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước, sau lan truyền sang nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Theo Đông y, mật gấu ngựa còn gọi là hùng đởm, được xem là vị thuốc quý đứng đầu trong các loại mật động vật, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng , chống chức mỏi, đau lưng, vàng da, đau dạ dày, trợ tiêu hóa. Còn trong Tây y, mật gấu được dùng làm tan sỏi mật, hỗ trợ điều trị xơ gan, ung thư gan. Vì được đánh giá cao như vậy nên mật gấu ngựa rất được ưa chuộng. Tuy nhiên, không nhiều người dùng mật gấu biết rằng hầu hết số gấu bị khai thác lấy mật hiện nay đều có nguồn gốc từ tự nhiên. Chúng bị săn bắt và nuôi nhốt để đáp ứng nhu cầu mật rất lớn trên thị trường. Trào lưu nuôi nhốt gấu lấy mật ở nước ta xuất hiện từ khoảng 3 thập kỷ trước, do không được kiểm soát tốt ngay từ đầu nên đã lan rộng trong cộng đồng, tập trung ở một số tỉnh thành lớn như Nghệ An, Hà Tây, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng.

 
Ảnh: AFF
Theo thống kê năm 2006, có khoảng 5.000 cá thể gấu bị nuôi nhốt trên cả nước. Con số trên thực tế có thể còn cao hơn.
Bán và tiêu thụ mật gấu là trái phép

Theo quy định của pháp luật, việc kinh doanh mật gấu là trái phép. Ngày 15/06/2006, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Hứa Đức Nhị đã ký ban hành quy chế về quản lý gấu nuôi, trong đó quy định cấm việc giết mổ, khai thác, vận chuyển và kinh doanh mật và các bộ phận khác của cơ thể gấu; cấm các hoạt động mua bán, quảng cáo, xuất nhập khẩu, tạm nhập – tái xuất khẩu gấu và các sản phẩm gấu trái quy định. Như vậy có thể hiểu rằng việc mua và tiêu thụ mật gấu của công chúng hiện nay đang hậu thuẫn và tiếp tay cho những hành vi vi phạm, mặt khác g óp phần đẩy loài gấu đến bờ vực tuyệt chủng.

Việt Nam có 2 loài gấu là gấu ngựa (Ursus thibetanus) và gấu chó (Helarctos malayanus). Cả hai loài gấu này đều bị đe dọa bởi tình trạng mất môi trường sống và nạn săn bắt, đặc biệt loài gấu ngựa đang bị con người lạm dụng nuôi nhốt để khai thác lấy mật.
 
Trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ Thế giới, chúng đều được xếp vào bậc dễ bị thương tổn. Hai loài này cũng có tên trong phụ lục Công ước buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng CITES và phụ lục IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

Không an toàn như nhiều người lầm tưởng

Cũng vì “khuất mắt trông coi” nên hầu hết người tiêu dùng không hề hay biết rằng tình cảnh gấu bị nuôi nhốt và khai thác lấy mật vô cùng đáng thương. Nếu ai đã từng nghe tiếng gấu tru lên trong các trại nuôi nhốt hẳn khó có thể nguôi ngoai, một thứ âm thanh kéo dài vừa như gầm rú, vừa như tru tréo, vừa hoang dại lại vừa như tiếng cầu cứu của một con người.

Đó là chưa nói đến tình trạng vệ sinh, thú y tại các trang trại nuôi nhốt gấu cũng hết sức cẩu thả, tồi tệ. Có những con đã chết vì bị nhiễm trùng các vết chích, mổ và vết thương khi bị sập bẫy.

Không ai có thể dám chắc đàn gấu đang bị khai thác hoàn toàn khỏe mạnh, mật đạt chất lượng tốt để phục vụ công tác chữa bệnh. Ý kiến chuyên gia cho biết gấu nuôi thường mắc các bệnh tụ cầu trùng, xoắn trùng. Người dùng mật của những con gấu mắc các bệnh này cũng có nguy cơ nhiễm bệnh. Ngoài ra, việc lấy mật không đúng quy cách khiến gấu dễ bị áp xe gan. Rất nhiều trường hợp, người lấy mật không sát trùng kim bằng cồn y tế mà chỉ đơn thuần đổ rượu Lúa Mới lên bụng gấu rồi chọc kim vào khiến gan gấu nhiễm trùng, mưng mủ.

 
Ảnh: Hiệp Bách Niên

Nên dùng sản phẩm thay thế mật gấu

Năm 1902, Hammerstan, một giáo sư người Thụy Điển, phát hiện ra thành phần chính tạo nên tác dụng kì diệu của mật gấu ngựa là UDCA - Ursodeoxycholic acid, một loại axít mật chỉ có ở mật gấu ngựa. UDCA có tác dụng tăng cường sức khỏe, chống mệt mỏi, chống stress, giúp tăng cường khả năng giải độc của gan, bảo vệ và phục hồi chức năng gan trong viêm gan do rượu, viêm gan mạn, hỗ trợ điều trị ung thư gan, ruột, phòng ngừa ung thư ruột già,…UDCA đã được Cục Quản Lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận là thuốc làm tan sỏi mật, phòng ngừa sỏi mật và xơ gan tắc mật nguyên phát hơn 20 năm nay.

Thời gian qua, trên thị trường xuất hiện dược phẩm mới DaewoongURSA-S của Tập Đoàn Dược Phẩm Daewoong (Hàn Quốc), do Công ty TNHH Dược phẩm Hiệp Bách Niên phân phối, hiện đang được quảng cáo và bán rộng rãi trên thị trường. Đây là sản phẩm đầu tiên tại Việt Nam chứa UDCA, dưới dạng viên nang mềm. Mỗi viên Daewoong URSA-S chứa 50mg UDCA tinh khiết (tương đương 1cc mật gấu ngựa tươi hoặc 250mg mật gấu ngựa khô), được sản xuất theo công nghệ hiện đại, bán tổng hợp từ mật của một số loài gia súc, gia cầm chăn nuôi.

Với thành công đã đạt được tại nhiều quốc gia khác, hy vọng URSA-S sẽ sớm được người tiêu dùng Việt Nam chấp nhận. Cũng hy vọng rằng trên thị trường sẽ có thêm nhiều sản phẩm thảo dược thay thế, để người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, thay vì chỉ nghĩ đến mật gấu mỗi khi đau nhức, có bệnh.

Hồng Phượng - thiennhien.net
Tham khảo trực tiếp tại đây http://www.thiennhien.net/news/155/ARTICLE/3301/2007-10-11.html
Trên thế giới có khoảng 1/3 dân số tức là trên 2 tỉ người bị nhiễm virut viêm gan B và khoảng 350 triệu người trong số họ trở thành mang virut mạn tính. Nếu trẻ em nhiễm virut viêm gan B do lây truyền từ mẹ thì 98% những trẻ em này sẽ mang virut suốt đời và 40% trong số này có nguy cơ sẽ chết vì bệnh xơ gan và ung thư gan. Vì thế tiêm vaccin phòng bệnh cho trẻ ngay sau khi sinh là một biện pháp phòng bệnh tốt nhất.
Đường lây truyền của viêm gan virut B
- Lây truyền qua đường máu: hay gặp do truyền máu và chế phẩm của máu có nhiễm virut viêm gan B, dùng kim tiêm chung mà chưa được khử trùng theo đúng tiêu chuẩn.
- Lây truyền qua quan hệ tình dục.
- Truyền từ mẹ sang con: virut được truyền từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ mà không phải trong thời kỳ mang thai.
Tiêm vaccin là biện pháp tốt nhất giúp phòng ngừa bệnh viêm gan B. 
Cách xác định có bị nhiễm virut viêm gan B hay không
Muốn biết mình có nhiễm virut viêm gan B chỉ cần xét nghiệm HBsAg trong máu. Nếu kết quả cho thấy có dương  tính với HBsAg tức là mình đã bị  nhiễm virut viêm gan B. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà có dương tính với Anti-HBs có nghĩa là mình đã có nhiễm virut viêm gan B nhưng đã khỏi và hiện tại đã có miễn dịch với virut viêm gan B. Nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính với HBsAg mà đồng thời có âm tính với Anti-HBs thì trường hợp này cần phải đi tiêm phòng vì cơ thể chưa bị nhiễm virut viêm gan B và cũng chưa có khả năng miễn dịch với bệnh. Sau khi có viêm gan virut B cấp tính nếu sau 6 tháng mà xét nghiệm HBsAg vẫn dương tính tức là người đó đã  chuyển sang giai đoạn mạn tính.
Diễn biến khi bị virut xâm nhập
Sau khi nhiễm virut viêm gan B phần lớn người bệnh không có biểu hiện của bệnh, chỉ có một số ít người có biểu hiện viêm gan virut B cấp tính đó là: mệt mỏi, chán ăn, sợ mùi thức ăn đặc biệt là thức ăn có nhiều chất béo và nhiều chất đạm (trứng, thịt, cá), đau mỏi toàn thân, đi tiểu nước tiểu sẫm màu như nước trà đặc hoặc nước vối tiếp sau đó da và củng mạc mắt vàng tăng dần. Sau 1-2 tháng diễn biến bệnh dần hồi phục. Tuy nhiên trong giai đoạn viêm gan cấp có một tỷ lệ rất ít bệnh nhân có thể viêm gan nặng và suy gan dẫn tới tử vong.
Khoảng 10% số người lớn sau khi bị viêm gan virut B cấp tính sau 6 tháng vẫn chưa sạch virut mà chuyển sang giai đoạn mạn tính. Trong trường hợp điển hình viêm gan virut B mạn tính bệnh nhân có từng đợt mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu, đau vùng gan, có thể có vàng da, khi đi khám bệnh thường được phát hiện có gan to chắc. Thật không may mắn cho người bệnh, ở giai đoạn mạn tính hầu như không có biểu hiện các triệu chứng mặc dù bệnh vẫn tiến triển âm thầm dẫn tới xơ gan và ung thư gan.
Phòng ngừa bệnh và biến chứng
- Đối với người chưa có miễn dịch với virut viêm gan B cần tiêm phòng.
- Đối với trẻ em sinh ra từ mẹ mà xét nghiệm có HBsAg dương tính cần được dùng globulin miễn dịch và tiêm phòng vaccin trong vòng 12 giờ ngay sau khi sinh sẽ giúp giảm 95% khả năng lây truyền từ mẹ sang con.
- Đối với những người viêm gan virut B mạn tính mà chưa có chỉ định điều trị cần theo dõi thường xuyên cứ 3-6 tháng một lần bằng xét nghiệm ALT trong máu, aFP và siêu âm gan.
- Không dùng dao cạo râu và bàn chải đánh răng chung với người có nhiễm virut viêm gan B.
- Trước khi kết hôn cần thử HBsAg nếu vợ hoặc chồng có nhiễm virut viêm gan B mà người kia chưa có miễn dịch cần tiêm phòng trước khi kết hôn.
Điều trị viêm gan virut B
Phần lớn viêm gan virut B cấp tính không cần dùng thuốc đặc hiệu để điều trị virut vì 90% số trường hợp mắc bệnh ở người lớn hoặc trẻ em lớn bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Trong giai đoạn cấp tính người bệnh chỉ cần nghỉ ngơi bảo đảm dinh dưỡng tốt bệnh sẽ dần hồi phục. Theo khuyến cáo của Hội gan mật Hoa Kỳ viêm gan virut B mạn tính chỉ điều trị khi men gan ALT (Alanine aminotranferase) tăng cao trên 2 lần trở lên so với bình thường. Trên thế giới ngày nay ALT đối với người khỏe mạnh bình thường < 30 IU/ml đối với nam giới và <19 IU/ml đối với nữ giới. Trong trường hợp ALT cao ít hơn hoặc không cao mà khi sinh thiết gan cho thấy có viêm hoại tử nhiều hoặc xơ nhiều thì cũng có chỉ định điều trị.
Các thuốc điều trị viêm gan: có hai nhóm thuốc đó là các thuốc uống có nguồn gốc nucleoside và thuốc tiêm là các interferon. Các thuốc nucleoside bao gồm: lamivudine, adefovir, telbuvidine, entecavir, tenofovir. Những thuốc này dễ sử dụng nhưng phải dùng thuốc kéo dài. Các thuốc interferon gồm có interferon-a và peg-interferon a. Những thuốc tiêm này ít có hiệu quả đối với người Việt Nam bị viêm gan virut B mạn tính bởi vì nhóm thuốc này có tác dụng tốt với viêm gan virut B mạn tính do genotype A mà người Việt Nam chủ yếu là genotype B và C gây ra.
BS. Vũ Trường Khanh
(Khoa tiêu hóa BV Bạch Mai)
Chỉ mệt mỏi, biếng ăn kéo dài và sụt cân, đến khi đau dữ dội ở hạ sườn kèm chứng vàng da, đến bệnh viện khám, chị An ở quận 3, TP HCM, bất ngờ nhận kết quả đã bị ung thư gan giai đoạn muộn.

Sốc nặng sau khi nghe tin, dù đã nhập viện điều trị, song khủng hoảng tinh thần dẫn đến mất ăn mất ngủ, thân thể suy kiệt, chị An qua đời 3 tháng sau đó để lại hai đứa con thơ.

Cũng mắc bệnh ung thư gan giai đoạn 3, thế nhưng anh Hà nhà ở Kiên Giang, chị Thủy quê Ðồng Nai, thậm chí không hề cảm thấy mệt mỏi biếng ăn hay có triệu chứng gì bất thường cho đến khi bị vàng da, bụng trướng và đau đớn dưới hạ sườn.

"Cơn đau chỉ xảy ra hai tuần trước khi tôi nhập viện. Các bác sĩ cho hay có một khối u trong gan. Tôi hoàn toàn bất ngờ và cảm thấy suy sụp. Thời gian sống của tôi giờ đây chỉ được tính bằng ngày tháng", chị Thủy nói.

Tại các bệnh viện chuyên khoa ung bướu tại TP HCM, hầu hết trường hợp ung thư gan đều có hoàn cảnh tương tự. Nhiều trường hợp nhập viện chưa đến 30 ngày đã qua đời.

Bác sĩ Nguyễn Ðình Song Huy, Trưởng khoa U gan Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, mỗi ngày, trong khoảng 10 trường hợp mắc ung thư mà bệnh viện này phát hiện thì phần đông rơi vào giai đoạn bệnh đã nặng. Nguyên nhân theo bác sĩ Huy, do ung thư gan ở giai đoạn khởi phát thường không có triệu chứng.

"Một số ít bệnh nhân phát hiện bệnh tình cờ từ những lần khám sức khỏe định kỳ. Còn lại phần lớn, khi đến viện thì bệnh đã quá nặng. Có người khi phát hiện ung thư gan chỉ sống được thêm vài tháng", ông Huy nói.

Lý giải thêm về việc phát hiện bệnh muộn, bác sĩ Huy cho biết thêm, với những khối u nhỏ, nằm ở vị trí khó phát hiện, bệnh nhân thường không có triệu chứng, cho đến khi khối u phát triển to làm căng màng bao gan thì mới thấy đau. Lúc ấy u có thể đã lan đến các bộ phận khác, làm tắc nghẽn ống mật khiến bệnh nhân đau bụng, ăn uống kém, mệt mỏi, sút cân, vàng da, phù nề...

Ông Ðào Văn Long, Tổng thư ký Hội khoa học tiêu hóa VN cũng cho hay, mỗi năm có khoảng 10.000 trường hợp mắc mới ung thư gan, hầu hết đều phát hiện bệnh ở giai đoạn cuối. Chính vì bệnh ít có biểu hiện và khó chẩn đoán, ông Long cho rằng, việc tiêm vắcxin ngừa viêm gan do virus, thận trọng trong quan hệ tình dục, giảm rượu bia, cẩn trọng với những loại thực phẩm bị nấm mốc là những biện pháp hữu hiệu nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh.

Cũng theo ông Long, tuy không chính xác tuyệt đối, song việc tầm soát bệnh bằng phương pháp siêu âm và xét nghiệm định kỳ là thực sự cần thiết nhằm giúp bác sĩ tìm thấy những yếu tố nghi ngờ.

Khẳng định hiện khó có phương pháp can thiệp hữu hiệu khi bệnh đã ở giai đoạn cuối, Phó giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP HCM, ông Phạm Xuân Dũng, cũng cho rằng, phòng bệnh là vấn đề mấu chốt.

"Các biện pháp hóa trị, xạ trị thậm chí hay biện pháp dùng thuốc trúng đích (làm ách tắc mạch máu nuôi tế bào ung thư) cũng chỉ kéo dài thêm sự sống chứ không thể trị dứt bệnh", ông Dũng nói.

Riêng về vấn đề tầm soát bệnh qua khám sức khỏe định kỳ, bác sĩ Nguyễn Ðình Song Huy cho rằng, men gan cao, nhiễm viêm gan siêu vi B... là những dấu hiệu nguy cơ có thể dẫn đến ung thư gan. Tuy nhiên có những dấu hiệu này chưa hẳn chắc chắn bị ung thư, bởi men gan cao còn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Kể cả khi mắc siêu vi B hoặc C cũng chưa chắc bị ung thư gan.

"Khi kết quả xét nghiệm có ghi những yếu tố nguy cơ, bệnh nhân cần đi đến bác sĩ chuyên khoa để được thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu xác định bệnh, trước khi phát hoảng lo lắng đến mất ăn mất ngủ", ông Huy nói.

Tổng hợp: Đức Mạnh

Người ta ví gan như một nhà máy mà nguyên liệu chính là 3 nhóm: chất đạm, chất béo, đường... và các chất phụ gia không thể thiếu là khoáng chất. Tuy nhiên với người bệnh gan thì việc cung cấp đủ là quan trọng nhưng dư thừa là không tốt. Vì khi bị viêm gan, tức nhu mô gan bị phá hủy nhiều khiến chức năng gan bị suy yếu.

Triệu chứng: Thường gặp ở người bệnh gan là vàng da và niêm mạc mắt, buồn nôn, nôn mửa, ăn mất ngon và sụt cân, sưng gan (chướng bụng), rối loạn đông máu, to vú ở đàn ông. Tùy nguyên nhân gây bệnh gan mà phương pháp điều trị có thể là kháng sinh, phẫu thuật, bổ gan... nhưng chế độ dinh dưỡng cũng vô cùng quan trọng cho người bệnh gan. Thiếu dinh dưỡng thì gan không làm việc được nhưng dư thừa cũng không tốt vì gan yếu, khó loại thải chất dư thừa. Do vậy tốt nhất cần biết những thứ gì nên ăn và thứ gì nên tránh.

Những thứ người viêm gan nên dùng

- Protein (chất đạm): Là chất vô cùng quan trọng đối với người bệnh viêm gan. Cần bảo đảm 1g protein/kg cơ thể/ngày. Trong đó 50% lượng protein này do ngũ cốc và rau quả cung cấp nên chỉ còn 50% là lấy từ thực phẩm như cá, thịt, trứng, sữa hoặc đạm thực vật như: đậu phụ... có nghĩa một ngày chỉ cần 200g cá hoặc 100g thịt nạc, trứng và cốc sữa là đủ.

Protein từ cá và sữa bò rất tốt cho người yếu gan vì dễ tiêu hóa. Trong sữa bò tươi hoặc sữa bột pha tương ứng có khoảng 3,7% chất đạm và 3,5% chất béo. Chất béo trong sữa bò thuộc loại khó tiêu hóa nên người ta thường khuyên người yếu gan không nên uống nhiều sữa chứ không phải là kiêng sữa (mỗi ngày nên uống 1 cốc).

- Chất béo: Người bệnh gan cần giảm các chất béo, kiêng ăn các món rán, chứ không phải kiêng hẳn chất béo. Một nghiên cứu cho thấy: ăn nhiều chất béo cùng với giảm protein và bột đường làm gia tăng quá trình xơ gan ở người viêm gan siêu vi C. Trong khi đó, một nghiên cứu khác chứng minh chất lecithin có nhiều trong lòng đỏ trứng gà và đậu mè các loại chứa nhiều acid béo, omega 3 rất cần cho người bị bệnh viêm gan mạn tính kể cả viêm gan siêu vi A, B, C.

Axid béo và omega 3 từ thực vật hay từ cá đều tốt cho gan và làm chậm quá trình ung thư hóa gan. Do đó chất béo từ cá, trứng, đậu mè tốt cho gan. Điều cốt yếu là không dùng dư thừa. Chú ý nên chế biến thực phẩm theo lối kho, nấu, luộc, hấp chứ không nên rán.

- Đối với trứng: Có nhiều ý kiến khuyên kiêng trứng nhưng thực tế cho thấy lòng trắng trứng chứa nhiều methionin, eytein, eystin là các acid amin bảo vệ gan. Lòng đỏ trứng chứa nhiều chất béo nhưng chất béo này là phosphatidylcholin (lecithin) tốt cho gan. Trứng có chứa lượng sinh tố nhóm B, nếu 1 ngày ăn 1 lòng đỏ trứng gà đáp ứng 1/3 nhu cầu vitamin của cơ thể. Như vậy trừ những người bị dị ứng với trứng, người bệnh viêm gan có thể cách ngày ăn một quả trứng luộc.

- Vitamin và khoáng chất: Các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho gan. Mỗi ngày cần bảo đảm đủ rau quả tươi (rau xanh 200g + củ quả non 1.000g + quả chín tươi 200g). Trường hợp người già yếu không thể ăn đủ sinh tố qua rau quả thì có thể uống thêm mỗi ngày 1 viên đa sinh tố B complex hoặc viên đa sinh tố khoáng chất.

Những thứ người bệnh gan nên tránh: Các thức uống có chất cồn (rượu, bia...), thuốc lá, tránh ăn thực phẩm ôi thiu, nhiễm hóa chất, tránh lao động quá sức.

Người bệnh gan cần chú ý ăn uống hợp lý, không được ăn dư thừa hoặc đưa các chất độc hại vào cơ thể. Nguyên tắc ăn uống hằng ngày là chọn thức ăn dễ tiêu và không kiêng quá mức sẽ dẫn đến suy kiệt cơ thể.

( Đức Mạnh -Theo Sức khỏe & đời sống )

 

      Nếu rượu bia thuận tiện cho quý ông “công lên chuyện xuống” thì chính nó cũng là “kẻ cắp” ranh mãnh. Chúng lấy đi nhiều thứ một cách âm thầm của gia đình bạn, từ hạnh phúc, sức khỏe, công việc… và cuối cùng là đoản thọ!

Chồng uống vợ lo

      Dù  chẳng thích gì rượu bia nhưng trước khi về nhà  ăn tối với vợ, anh Minh Hùng, 36 tuổi cũng phải “cạn ly 100%” với đối tác làm ăn. Khổ nỗi, nếu không nhậu nhẹt với khách hàng, công việc của anh không “thuận buồm xuôi gió”. Thương chồng phải tất bật với công việc giao tiếp khách hàng, vợ anh mon men đến các trung tâm giáo dục sức khỏe nhờ chuyên gia tư vấn.

      Các bác sĩ cho biết, rượu bia uống vô sẽ kích thích ngon miệng, nói chuyện cởi mở, tinh thần sảng khoái nhưng đó là chất độc! Sau khi uống vào, cơ thể và đặc biệt là gan phải cật lực giải độc, nhất là khi ép cơ thể “tiếp nhận” rượu bia liên tục từ ngày này sang ngày khác, nam giới dễ mắc một số bệnh như: liệt dương, tinh trùng yếu gây vô sinh, loạn nhịp tim, cao huyết áp, thoái hóa não bộ, rối loạn trí nhớ, mất khả năng sáng tạo trong công việc.

      Thói quen uống nhiều rượu còn làm cho cơ thể tăng việc thải canxi qua đường thận và giảm hấp thu canxi ở đường tiêu hóa, khiến nam giới dễ bị loãng xương. Với những bệnh nhân coi rượu bia như bạn chí cốt, lâu ngày cũng hiến tặng cả gan ruột của mình cho rượu bia như: xơ gan, ung thư gan, ung thư thực quản, ung thư dạ dày… 

Liều thuốc nào cho quý ông?

      Ai cũng hiểu rượu bia sẽ đem lại nhiều nguy hại, thế  nhưng họ vẫn ép nhau “không say không về”, “nam vô tửu như kỳ vô phong”… Để rồi, khi “tê tê”, nhiều ông chồng trở thành kẻ bạo lực gia đình, đánh đập vợ con. Còn khi say quất cần câu, có những người trở thành tàn phế, sống cả đời với hậu quả do tai nạn giao thông. Thậm chí, có người bị rượu bia điều khiển gây ra những cái chết thương tâm cho người vô tội. Đó là chưa kể, uống nhiều rượu bia, phái mạnh dễ buông thả trong tệ nạn “mát-xa”, “bia ôm”; bất chấp vấn đề an toàn tình dục dẫn đến lây nhiễm các bệnh như: lậu, giang mai, herpes sinh dục, viêm gan, HIV/AIDS…

      Rượu bia cũng có cái giá của nó. Uống ít nó trở  thành nét văn hóa, phong tục của nhiều vùng dân cư  khi gặp gỡ, giao tiếp. Nhưng nếu lạm dụng, rượu không còn là rượu mà là “kẻ cắp” ranh mãnh. Tốt nhất, quý ông nên hạn chế uống rượu bia để tránh rạn nứt hạnh phúc gia đình, phòng ngừa bệnh tật, nhất là nam giới chưa vợ. Tuy nhiên, nếu vì công việc không thể bỏ uống, các quý ông nên uống ở mức độ vừa phải để còn tỉnh táo để luyện tập thể thao lấy lại sức lực, phong độ đàn ông.

      Sau khi uống bia rượu, nam giới không nên tắm ngay, không ngủ ngoài sân, ngoài vườn… tránh trường hợp tử vong do trúng gió, đồng thời uống nhiều nước sau khi uống rượu để tăng cường việc đào thải độc chất ra ngoài cơ thể. Hoặc quý ông có thể sử dụng thuốc có tác dụng bảo vệ gan - cơ quan chịu ảnh hưởng nhiều nhất sau khi cơ thể “đốt” bia rượu. Sau khi được tư vấn kỹ càng, vợ anh Minh Hùng rầu rĩ: “Không biết về nhà khuyên ông xã có bỏ nhậu được không đây? Chắc là khó! Nghe mấy đứa bạn cùng cảnh ngộ nói tụi nó thuờng hay đi mua mấy sản phẩm có tác dụng phục hồi và bảo vệ gan trước tác hại của bia rượu để ông xã uống. Chị nghĩ, từ rày về sau chắc mình cũng phải đi mua sẵn loại này về để sẵn trong nhà để bảo vệ sức khỏe cho ông xã cho chắc ăn, chứ mình nói để cho ổng tự đi mua thì lại là thêm một chuyện khó nữa.

Ngọc Hương

Nói về bí quyết thành đạt của nhiều quý ông hiện nay, người ta chỉ gói gọn trong hai từ năng lực. Tất nhiên, năng lực về chuyên môn nghề nghiệp thôi thì chưa đủ, một người đàn ông chỉ thật sự được xem là thành công khi họ điều khiển giỏi các mối quan hệ giao tiếp. Và do đó, rượu bia đôi khi được xem là phương tiện để giúp quý ông thể hiện bản thân.

Từ xưa đến nay, người ta luôn quan niệm: trụ cột chính của gia đình phải là những người đàn ông mạnh mẽ. Rượu bia là chất cay nóng nên sẽ làm tăng thêm tính mạnh mẽ này. Chính quan niệm trên đã khiến nhiều bậc nam nhi từ lúc bắt đầu trưởng thành cho rằng việc biết uống rượu bia là một tiêu chí để đo bản lĩnh.

Thói quen uống rượu bia ở thanh niên hình thành từ khá sớm. Một số làm quen với “men” ngay từ thời sinh viên. Và đến khi ra trường đi làm, việc uống rượu bia càng trở thành một điều tất yếu. Các mối quan hệ từ bạn bè đến công việc… đã làm việc uống bia rượu thành thói quen, thường xuyên hơn và trở nên khó bỏ. Không ít thanh niên dưới ba mươi mà tửu lượng đã gần chục năm được “mài dũa”. Đồng nghĩa với điều này là lá gan của họ phải tiếp nhận chất độc thường xuyên hơn và sớm hơn những người khác.
 
Biết là vậy, song đôi khi lời từ chối trong vài trường hợp trở nên rất khó nói. Chẳng hạn, trong buổi gặp gỡ đối tác thương thuyết chuyện làm ăn, sẽ chẳng có một quý ông nào lại thốt lên “Thôi, tôi xin lấy nước lọc để nâng ly chúc mừng việc hợp tác lần này của chúng ta!”, chắc chắn phía đối tác sẽ phần nào cảm thấy nhạt nhẽo vì sự thiếu mặn mà này. Trong buổi liên hoan công ty, cũng sẽ chẳng có một anh nhân viên nào dũng cảm rút lui, trốn tránh “chén tạc chén thù” với sếp hay với đồng nghiệp của mình.
 
Tuy nhiên, lá gan cũng sẽ hứng chịu độc tố như nhau, dù việc uống rượu có từ lý do chính đáng hay không chính đáng. Nếu không được bảo vệ, đến một lúc nào đó, lá gan cũng sẽ bị quỵ ngã bởi tần suất nạp rượu bia liên tục của các thân chủ. Trong thời gian gần đây, có rất nhiều trường hợp mắc bệnh về gan do rượu bia là những quý ông trẻ tuổi.

Đang nuôi con điều trị gan trong bệnh viện, cô Huỳnh Thị Lý (60 tuổi, TP.HCM) nghẹn ngào: “Khuyên nó bớt uống rượu mấy năm nay rồi nhưng nó không nghe. Mới 28 tuổi mà ruột gan đã tơi bời. Giá như có loại thuốc nào giúp nó bỏ được rượu.”

Tất nhiên, sẽ chẳng có một loại thuốc nào có thể giúp con cô Lý hay con của hàng ngàn bậc cha mẹ khác bỏ hẳn được bia rượu, chỉ có loại thuốc giúp bảo vệ gan trước tác động phá hủy của “chất gây nghiện” này. Sức khỏe và sự nghiệp là hai yếu tố không thể thiếu của người đàn ông thành đạt. Nhưng đôi lúc, vì rượu bia người đàn ông phải đứng trước sự lựa chọn hai yếu tố này. Để tránh sự đánh đổi, cần phải chủ động bảo vệ lá gan của mình, giúp lá gan bớt thương tổn vì độc tố của rượu bia.

Đừng để tuổi chưa tàn mà gan đã rụng. Đuợc biết hiện nay đã có một số loại thuốc ở dạng viên nang mềm có tác dụng phục hồi và bảo vệ gan truớc tác hại của bia rượu. Tuy nhiên, thuốc chỉ có thể phát huy tác dụng để bảo vệ gan. Và chỉ khi người ta có ý thức biết tự bảo vệ lá gan cho mình thì đấy mới đích thực là liều thuốc tiên!

NGỌC HÀ

Từ lâu, rượu đã trở thành “một phần không thể thiếu” trong cuộc sống của các quý ông. Đôi khi, tiệc tùng cũng được xem là vì công việc. Gặp gỡ đối tác, các ông phải uống vài ly để tạo mối xã giao; khi thỏa thuận được các hợp đồng, các ông lại “ôm” cả thùng bia để chúc mừng. Biết là sức người có hạn, song các ông vẫn phải chạy vài ba “show” trong một ngày. Do đó, lượng rượu bia mà các ông chồng “thu nạp” chắc chắn sẽ khiến cho các bà vợ rùng mình lo sợ.

Thật ra, uống rượu cũng là một phần trong nét văn hóa của người Việt. Trong những dịp cúng kính Trời Đất hay tế lễ tổ tiên, trên các mâm cỗ lúc nào rượu cũng được thờ cúng. Ly rượu giao bôi của cô dâu chú rể, ly rượu dâng lên cha mẹ, ông bà,… rượu nhằm để thay lời chúc mừng, nhất là vào những ngày cuối năm. Đây là thời điểm “rượu vào mùa” cho những dịp đám cưới, liên hoan cơ quan, …

Thế nhưng, nhiều người vì vui quá trớn nên sử dụng rượu bia quá mức. Từ đó, vẻ đẹp văn hóa của dân tộc ít nhiều bị mất đi; thậm chí nhiều người trở thành tù nhân của rượu.

Trong “tứ đổ tường” (Tửu, Sắc, Yên, Đổ) thì Tửu (rượu) đã chiếm ngôi vị đầu bảng. Chỉ xét riêng lĩnh vực sức khỏe, rượu đã có thể chứng minh sức mạnh “đổ tường” của mình. Lá gan là nơi bị rượu tác động và phá hủy nhiều nhất. Các chứng bệnh về gan hầu như đều có sự góp mặt tàn phá của rượu. Từ xưa, người ta đã biết về mối liên quan giữa rượu và căn bệnh nguy hiểm này. Vua Hoằng Quang, nhà mạt Minh cũng do lạm dụng rượu mà phải chết vì chứng viêm gan. Với tần suất và cường độ nạp rượu bia liên tục, các quý ông cũng nên xem lại “tấm gương” của vị vua Tàu trên để biết lá gan là nơi phải hứng chịu mọi hậu quả.

Người uống là quý ông, song người lo nhiều hơn lại là các quý bà. Có bà vợ nào mà không xót khi thấy ông chồng mình suốt ngày bốc mùi men nồng nặc. Các lý do uống rượu dù có chính đáng đến mức độ nào thì cũng không thể làm các bà vợ yên tâm phó mặc chồng mình với ma men. Lá gan cũng sẽ chẳng vì lý do “công việc, tiệc tùng” mà thôi không tiếp nhận độc tố. Từ ngày này sang ngày khác, liệu nó còn đủ sức mạnh để đảm bảo sức khỏe cho quý ông? Đến lúc đó, chắc cũng chẳng mấy ông còn đủ “vững vàng” ngồi trên bàn nhậu khi lá gan mình đang “bị nướng” dồn dập.

Nhiều bà vợ chẳng dám trách chồng vì rượu bia tới tấp, do các bà cũng rất hiểu cho đặc trưng công việc và giao tiếp xã hội của chồng mình. Không thể ngăn cản các ông thực hiện bản lĩnh và nghĩa vụ của bậc nam nhi, nhưng chẳng lẽ lại khoanh tay bất lực nhìn lá gan các ông bị rượu “nướng” từng ngày? Giải pháp cho các quý bà là “thương” dùm lá gan của các ông, nên chủ động bảo vệ nó, để nó đồng hành cùng các ông trên bước đường sự nghiệp một cách suôn sẻ. Chính rượu đã nhóm lên lửa đốt cháy gan, vậy hãy dập tắt ngọn lửa ấy bằng những điều thần kỳ từ mật gấu. Tất nhiên, điều thần kỳ này đã có sẵn trong những viên nang được bào chế đặc dụng, chứ không phải do sát sinh một cá thể gấu nào.


Lửa thì đã có thể chế ngự, nhưng nó sẽ bùng lên bất cứ khi nào có gió lớn. Bảo đảm chế độ ăn uống điều độ để khi “nạp” rượu, sẽ không có một cơn gió lớn nào có thể thiêu rụi lá gan của bạn.

Hãy bảo vệ lá gan của bạn bằng dẫn chất từ mật gấu URUSA-S

UYỂN NHI

Chưa có danh nhân nào nói thế và cũng chưa từng có câu danh ngôn nào như thế, nhưng, dù muốn hay không, thực tế là như thế. Vậy thì, thưa các quý ông, bao nhiêu người trong số các vị ngầm xác nhận đó là một điều hiển nhiên trong cuộc sống của mình? Chuyện nhậu nhẹt không phải của riêng Việt Nam mà cũng không phải bây giờ mới có. Hàng ngàn năm trước bên Trung Quốc đã có nhục lâm và tửu trì để vua Trụ vui thâu đêm suốt sáng. Trương Phi là một trong những nạn nhân đầu tiên của ma men khi mất mạng trong cơn say bí tỉ.

Ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, tìm một quán nhậu có khi còn dễ hơn bắt một chiếc taxi. Trong dòng xe ken đặc vào những giờ tan tầm, bên cạnh những chiếc xe đang cố len lỏi để nhanh chóng về với vợ con, còn có những chiếc mà điểm đến cuối cùng là các quán nhậu. Khi thành phố lên đèn thì cũng là lúc các quán nhậu ra bàn ghế. Đường phố dần thưa và một phần sự náo nhiệt từ các đường phố chuyển vào trong các quán nhậu. Trong số các tửu khách có không ít các doanh nhân, những quý ông luôn tất bật với công việc mà mỗi phút giây họ đều có thể làm ra của cải và giải quyết những việc ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người.

Thời gian vàng bạc đó có thể được tiêu tốn bên các bàn nhậu. Tiêu tốn không có nghĩa là phí phạm. Các doanh nhân quá đủ khôn ngoan để phí phạm thời gian. Do đó bàn nhậu chưa chắc là nơi rỗi hơi vô ích. Ít nhất nó cũng là chất kết dính cho các quan hệ xã hội, nhất là đối với phái mạnh. Khi những người đàn ông ngồi lại với nhau, không có gì thích hợp hơn là một chút men say làm bừng khí thế của những người vốn luôn tìm những cảm giác mạnh dưới tác động của chất tố nam tuôn chảy trong người họ.
Chẳng lẽ nói chuyện suông? Chẳng lẽ uống nước suối? Hay nước ngọt? Nhưng chắc chắn không phải là sữa! Câu chuyện chỉ bắt đầu khi có tí hơi men. Bàn nhậu lúc này thay thế ‘miếng trầu’ để làm đầu câu chuyện. Những lúc đó người đàn ông mới cảm thấy thoải mái, thư giãn nhất, thoát ra khỏi sức ép và sự gò bó của công việc. Lúc đó họ mới sống thật nhất. Chính vì là chất kết dính bạn bè nên trong các cuộc nhậu bao giờ thêm bạn cũng là thêm vui.

Nhưng có một thứ chẳng bao giờ vui. Từ ngày này qua ngày khác lá gan vẫn phải đón tiếp những ‘vị khách’ không mong muốn. Đến lúc nào đó, sự chịu đựng âm thầm sẽ bùng nổ trong đau đớn. Chúng ta đừng để gan phải chịu mọi hậu quả. Hãy công bằng với gan ngay từ bây giờ và mỗi ngày. Khi ta nhậu, gan cần đuợc bảo vệ, gan cần mật gấu để không đau, nhưng nỗi đau sẽ hành hạ những con gấu vô tội đang kêu gào thảm thiết. Có được bao nhiêu con gấu ngoài kia? Có biết bao nhiêu người sẽ cần đến mật gấu? Có mấy ai biết thật-giả thế nào?
May mắn thay, khoảng hơn mươi năm trở lại đây, các nhà khoa học đã khám phá và bào chế  được điều thần kỳ của mật gấu. Giờ đây, chúng ta có thể tìm thấy “URSA-S” trong các viên nang ở khắp các hiệu thuốc mà không phải tổn thương một cá thể gấu nào.
“Vũ khí lợi hại” đã trong tầm tay, nhưng các quý ông vẫn phải biết ‘dừng đúng lúc’. Dù sao đi nữa, có thuốc nào là thuốc tiên?
 

PHI LONG

Một bài, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta!

Tôi có một anh bạn, lắm tài những cũng nhiều tật, nhất là cái vụ ‘làm vài ve’. Anh thường ngâm nga hai câu thơ trên rất tâm đắc. Có điều cái ‘lăng nhăng’ đầu tiên của Trần Thế Xương là ‘trà’ đã bị cải biên thành ‘bài’ cho hợp thời đại.

Trong ba ‘cái lăng nhăng’, có đúng là chúng ‘quấy ta’? Có vẻ như ta mới là người quấy. Ngẫm cho kỹ, chỉ có rượu mới thật sự ‘quấy ta’, vì nhiều khi không muốn mà vẫn phải uống.
Các quý ông đang ở những tháng cuối năm, mùa cao điểm của tiệc tùng và khách khứa. Công việc bận túi bụi đã đành, mà nhậu nhẹt cũng tối mắt tối mũi.
Đến nỗi, ‘nhiều khi họp xong chỉ muốn lủi cho thật nhanh’, như lời thổ lộ của anh L. X. Hoàng ở một công ty xây dựng lớn.

Nói thế nhưng mấy ai làm thế?

Dân làm ăn nào phải nhậu cho vui. Nhậu để lấy lòng đối tác; nhậu để biết thông tin; nhậu để giành khách hàng; nhậu để bắc cầu quen người khác… Dù là mục đích gì đi nữa, chuyện nhậu nhẹt trong giới kinh doanh chỉ là phương tiện chứ không là mục đích cuối cùng.
Thế nên, anh Hoàng đã quá mệt mỏi với những câu cười nói, những cái bắt tay và những lời chúc tụng. Anh thèm một bữa cơm, một bữa cơm có canh có rau, với vợ con mà không được.
Thế mới biết, phụ nữ có cái khổ của phụ nữ thi đàn ông cũng có cái khổ của đàn ông. Nào phải các ông cố tình bê tha chè chén để vợ thui thủi rồi trách hờn!
Nếu nghĩ ‘vài ve’ sau giờ làm việc cũng là một ‘bổn phận’ của đàn ông, chị em sẽ thông cảm nhiều hơn. Tính ra, thơ ca bao đời nay chỉ than thở cho ‘thân em’, chứ nào đã có ai than giùm cho ‘thân anh’ bao giờ?
Ba tôi từng làm áp-phe nên quan hệ rất rộng. Đến giờ nghĩ lại năm ba ngày Tết hồi nhỏ tôi vẫn còn thấy sợ. Sáng trưa chiều tối, khách ra rồi lại khách vào. Dù cả năm làm việc vất vả, ba tôi cũng chẳng mong đến Tết để được ‘nghỉ ngơi’.
“Hai tháng cuối năm và tháng giêng đối với tôi là mùa cao điểm tiếp khách, gấp nhiều lần so với tháng hai hay tháng ba,” anh L. T. Khải làm việc một tập đoàn quảng cáo lớn, cho biết.

Bàn thảo ký mới hợp đồng, thanh lý hợp đồng cũ, họp tổng kết quý, tổng kết năm, họp phòng, họp cơ quan, bình bầu xét thưởng, hội nghị khách hàng, chào xã giao, rồi còn lễ lạc, Noel, tết tây, tết ta, chưa kể thiệp hồng tới tấp như bươm bướm.
Đã trong thế làm ăn thì thế thời phải thế!
Dù ít dù nhiều cũng phải uống, anh Khải thừa nhận. Dồn dập ngày này qua ngày khác thách thức không nhỏ sức chịu đựng của các quý ông.  Chỉ trong vòng mấy tháng mà nhậu nhiều hơn cơm bữa, bia chảy tựa mưa tuôn.
Mưa dầm thấm lâu, còn rượu dầm thì thấm đậm thấm sâu thế nào?
Tiệc tan, chuyện tàn, rượu cạn, hình ảnh ‘hào hùng’ trên bàn nhậu của quý ông cũng không còn nữa: về đến nhà chỉ lăn ra ngủ li bì. Thức dậy đầu nhức, lưng đau, toàn thân mỏi mệt (cảm giác quen thuộc?).
Chất độc tích tụ qua ngày tháng. Viêm, xơ rồi cuối cùng ung thư gan là những ‘cột mốc’ chắc chắn phải đi qua.
Nếu trước đây cỡ chục năm thì cũng đành phó mặc cho số phận. Nhưng giờ đây chẳng phải đã có loại thuốc hóa giải độc tố của cồn thấm vào gan đó sao?

PHI LONG

Trước hết phải xin lỗi Nguyễn Du vì đã sửa câu thơ tuyệt tác của cụ. Quả thật, anh hùng hào kiệt thời nay khác xa với thời Nguyễn Du mô tả Từ Hải ‘đường đường một đấng anh hào’.

Nếu ngày xưa Từ Hải chỉ gươm đàn nửa gánh mà tung hoành thiên hạ, chỉ một mái chèo mà đi khắp non sông, thì bậc trượng phu ngày nay mấy ai còn vấn vương chuyện gươm đàn, dù họ vẫn phải gánh vác cả giang san?
Cao thủ của Kim Dung phải lên tận đỉnh Hoa Sơn luận kiếm mới biết anh hùng, nhưng ngày nay ‘luận tửu’ mới là chuyện nam nhi thường tình.
Chính vì vậy, nói trượng phu ngày nay ‘tửu bàn nửa gánh’ cũng không ngoa, vì có mấy ai đứng trong trời đất mà lại không uống bao giờ.
Nhất là các doanh nhân, những người không chỉ đứng trong trời đất mà còn đội trời đạp đất, thì tửu bàn đối với họ cũng giống như đại hiệp múa gươm.
Thử nghĩ, doanh nhân bàn chuyện trên bàn tiệc. Rượu mời đưa tới: không uống dù chỉ nhấp môi. Đối tác sẽ nghĩ sao?
Người đó không cởi mở, quá khách sáo và dễ xa nhau. Người đó quá kỹ tính, quá cẩn thận. Người đó sợ rượu nhiều lời ra chăng? Người đó có điều gì không muốn ta biết chăng? Túm lại là khó chơi và cần cẩn trọng.
Nếu đã không uống thì lần sau còn mời làm gì? Cơ hội xây dựng quan hệ chẳng có lần thứ hai.
Nhưng có người nói: nữ doanh nhân có nhậu đâu mà công việc vẫn trôi chảy đó thôi?
Điều đó không sai, nhưng quý ông không phải là quý bà! Không thể lấy trường hợp của quý bà mà so sánh cho quý ông được. Đó là chưa kể, trong nhiều trường hợp, nữ doanh nhân cũng uống.
Chè chén bê tha là đáng trách, nhưng đối với doanh nhân, điều đó hiếm khi xảy ra. Các quý ông luôn tỉnh táo để biết mình đang làm gì.
Họ uống tỉnh, chứ không uống say. Mỗi phút mỗi giây làm việc họ có thể làm ra rất nhiều tiền. Uống bí tỉ rồi li bì cả ngày đêm, bỏ bê bao nhiêu việc quan trọng cần giải quyết ư?
Nơi bàn nhậu cũng có thể ‘luận anh hùng’. Đó là nơi có thể thấy được bản lĩnh và sự khôn ngoan. Uống sòng phẳng, không thoái lui mà vẫn điềm tĩnh giữ mọi việc trong tầm kiểm soát. Chẳng nói hớ một câu mà cũng chẳng bệ rạc. Đó mới là hào kiệt. Đó mới là đẳng cấp.
Lúc đó, đối tác mới nể và tin: người đó không bao giờ lùi bước và luôn đủ sức vượt qua mọi khó khăn và sẽ chiến đấu cùng ta tới cùng.
Tuy nhiên, ‘tửu bàn nửa gánh’ không chỉ là ánh hào quang. Nếu không cân bằng thì lợi sẽ bất cập hại. Ăn nhậu không tránh khỏi thì mệt mỏi cũng theo luôn. Ngày dồn tháng góp, những căn bệnh nguy hiểm bắt đầu từ những mệt mỏi nhỏ nhất tích tụ lâu ngày.
Nếu nỗi khổ của chị em là sự thua thiệt trăm bề, thì nỗi khổ của các anh là nỗi khổ đội đá vá trời: gánh vác cơ nghiệp, giang san, gia đình và trách nhiệm với xã hội.
Trăm ngàn việc phải lo nghĩ. Trách nhiệm lớn lao, đừng để một ngày nào đó đuối sức rồi buông xuôi. Bỏ dở giữa chừng hoàn toàn không phải là bản chất của các ông.
Để đi đến cùng phải có sức khỏe. Đừng để những mệt mỏi đó tích tụ mỗi ngày. Đó là cách các quý ông bớt đi một gánh lo để có thể tập trung vào những công việc khác.

PHI LONG

Bia rượu là chất độc!

Khẳng định như thế chắc chắn nhiều người sẽ phản đối. Trước hết là những nhà sản xuất rượu bia, rồi đến những người mà miệng với bụng như thùng đựng bia luôn mở nắp.

Cả tỷ người trên thế giới uống bia rượu hằng ngày mà vẫn nhơn nhơn ra đấy. Vả lại, có ai uống rượu vào mà chết ngay bao giờ?
Ừ thì cũng đâu có ai hút thuốc mà lăn đùng ra chết. Nhưng các nhà sản xuất vẫn phải thừa nhận thuốc lá là chất độc và in lời cảnh báo trên từng bao thuốc đấy thôi.


Mỗi lon bia, chai rượu đang nợ người tiêu dùng những lời cảnh báo tương tự. Ít nhất bia rượu cũng là chất độc khi tích tụ nhiều trong cơ thể.
Con người ngày nay rất nhạy cảm với các chất gây hại tìm thấy trong thực phẩm, chỉ chút 3MPCD mà nước tương bị kiên quyết tẩy chay, trong khi rành rành chất độc trong cồn mà chẳng ai biết sợ. Lạ thay!
Thế nên các bệnh viện mới nhiều bệnh nhân ung thư gan đến thế. Nhiều người trong số đó đang cố níu kéo sự sống được chút nào hay chút đó.
Vàng da, trướng bụng, người bải hoải, thân thể mỏi mòn, hóa chất hoành hành làm cạn sức lực, tóc rụng thành chùm, uống ăn chẳng đặng như ngậm nuốt dăm bào.

Phần đông chúng ta đang sống vui khỏe sẽ không hình dung được. Nhưng trong các trại nội trú trong bệnh viện nơi con người đang từng ngày vật vã giữa sự sống và cái chết thì mới thấy trân quý cuộc sống đến dường nào.

Đó cũng là cảm giác trên giường bệnh, đôi lúc bệnh nhân tự dằn vặt ‘nếu như ngày xưa biết nghĩ cho sức khỏe, biết bảo vệ cho gan; Nếu như ngày xưa những lúc nhức mỏi khắp người sau những đêm say mà biết sợ thì bây giờ đâu đến nỗi’.
Tuy nhiên cuộc đời đâu phải bộ phim mà quay lại. Bát nước một khi đã đổ xuống đất thì không thể hốt lại cho đầy, và hai chữ ‘nếu như’ thì luôn ở thể giả định.
Thời vàng son cả trăm ông không ông nào biết sợ. Uống rượu mà không say nào hay. Đã không say thì không về. Phái mạnh mà, bệnh tật sợ ta chứ ta sợ gì bệnh tật?
Tai chỉ nghe lời chúc tụng, mắt toàn thấy cảnh tưng bừng, môi nhấp đầy men cay đắng, thêm một chút chất độc tích tụ lại trong cơ thể chẳng là gì để các ông phải hay biết.
Nhưng khi xác thân đã tàn tạ thì các ông lại biết sợ hơn lúc nào hết. Sợ thân góa phụ yếu đuối ai chống đỡ lúc phong ba. Sợ con nhỏ bơ vơ thiếu sự bảo bọc vững chắc của người cha. Sợ cơ nghiệp bao năm gồng gánh phải bỏ phế giữa chừng. Con thơ dại vợ héo hon nhìn thấy mà ứa nước mắt.
Rồi trong những giây phút lặng lẽ, cuộc đời quay lại như một cuốn phim, trong đó có những lúc ta đã từng oanh oanh liệt liệt. Vậy mà bây giờ… thật xót xa! Ngày xưa nào nghĩ được đến xa xôi. Bây giờ tỉnh táo nhìn lại thì không cứu vãn được nữa rồi.
Bản thân mình đã trót thôi đành chịu, chỉ sợ con đường đó, con cái sau này cũng sẽ đi qua.
Bao nơi cần phải đi, bao người cần phải gặp, và bao nhiêu việc cần phải làm. Nhiều ý tưởng vẫn chưa kịp thực hiện. Hoài bão, mục tiêu, kế hoạch, dự định thôi cũng đành trôi theo dòng nước. Còn gì ấm ức cho bằng khi còn bao nhiêu khả năng làm nên chuyện mà không làm được gì?
Sinh không vì bia rượu mà sao lại tử vì rượu bia. Hóa ra một đời phí phạm chỉ để trả nợ tỉnh say?

PHI LONG
Kỳ tới: Giật mình mình lại thương mình xót xa. Tham công tiếc việc, lo nghĩ cho gia đình, nhiều người bị cuốn vào vòng xoáy như những con thiêu thân. Có phút nào đó giật mình để biết

Đó là tâm trạng của nàng Kiều những lúc ê chề chán chường nhất khi bị đày đọa trong vũng bùn nhơ nhớp chốn thanh lâu.

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa.

Mượn chuyện Thúy Kiều để nói chuyện nhậu nhẹt của quý ông thời nay có vẻ không hợp chút nào. Nhưng ở đây không bàn chuyện Kiều uống nhiều hay uống ít để quên sầu mà chỉ nhắc nhở các ông biết  thương mình mỗi khi tỉnh rượu tàn canh.

Mạnh mẽ như các ông thì không bao giờ ủy mị để ‘xót xa’ như Kiều, nhưng thương mình thì sẽ không thừa mà các ông thì bao giờ cũng thiếu.
Bản thân mình mà sao mình lại không thương? Nghe ra thì lạ nhưng ngẫm lại cũng không phải là vô lý.
Người Việt Nam sống tình cảm và coi trọng tình cảm trong cuộc sống. Chúng ta dành trọn tình thương yêu cho những người thân thuộc.

      Nói cách khác, chúng ta lo cho vợ chồng, con cái hay cha mẹ hơn chính bản thân chúng ta.
Đàn ông với cương vị người chủ gia đình phải gánh nặng cả hai vai. Trách nhiệm nặng nề mà vòng tay thì rộng lớn khiến các ông phải lao tâm lao lực để chu toàn cho những người thân yêu mà ‘bỏ quên’ sức khỏe của bản thân.

Hoặc bị ràng buộc bởi đồng công mối nợ, hoặc ngổn ngang vì vợ vì con, đâu phải chỉ các bà vợ mới có tính hay lo, mà các ông chồng cũng ưu tư trăm mối.
Trong một cuộc sống mà bia rượu đã thay thế miếng trầu để làm đầu câu chuyện và chí khí nam nhi được chứng tỏ trên bàn nhậu thì sức khỏe của các ông, nhất là những người làm ăn nhiều và giao thiệp rộng rãi, bị đe dọa hơn bao giờ hết.

Nhưng cũng có người có thể nói, chẳng hạn, tại thời điểm này, tôi uống nhiều như thế, say như thế, nào đã có chuyện gì xảy ra? Chóng mặt, đau đầu, bải hoải tứ chi nhiều lắm vài ba bữa rồi lại trở lại trạng thái bình thường: sẵn sàng, sung sức cho ‘độ’ mới thậm chí tưng bừng hơn nữa.
Chẳng thấy có chuyện gì xảy ra? Đó mới là điều đáng sợ. Ung thư lúc khởi phát chẳng phải chẳng bệnh nhân nào biết điều gì đang xảy ra? Đến chừng biết thì đã muộn!

Phải chi đau đớn ào ạt ngay tại chỗ thì có lẽ các ông biết sợ mà chừa. Nhưng chất độc từ bia rượu nhẹ nhàng ‘từng bước thầm’ tích tụ lại để đánh lừa bệnh nhân.
Cho đến nay, ung thư vẫn được nhìn nhận là trời kêu ai nấy dạ nên không ai biết đường mà tránh. Tuy nhiên, đối với các chất độc được đào thải trong quá trình chuyển hóa bia rượu trong gan, quyền chủ động lại hoàn toàn nằm trong tay mỗi người.

Nói cách khác, ta có toàn quyền quyết định số phận của mình. Nhưng ta có sử dụng cái quyền đó hay không?
Nhiều người bỏ ra không biết bao nhiêu tiền để tầm soát, để phòng tránh ung thư. Thế nhưng, những chất độc có thể gây ung thư có thể giải được ngay thì ít người quan tâm.
Lo cho vợ con nên các ông bị cuốn vào vòng xoáy công việc mà chẳng có thời gian để ‘giật mình’ và ‘thương mình’. Ngược lại, vợ con vì lo cho sức khỏe các ông mà đêm ngày cũng canh cánh bên lòng.
Cho nên, thương mình cũng là một cách thương vợ thương con. Đường xa, gánh nặng, nếu không đủ sức khỏe thì làm sao đi hết đoạn đường? Chạy đường dài, chứ ai lại chạy đường gần bao giờ?
Không ai thương mình tốt cho bằng mình tự thương mình. Vợ con có thể nhắc chừng từng lúc nhưng họ có thể nghỉ ngơi hay uống thuốc giúp các ông được không?

PHI LONG

Càng dần đến thời điểm cuối năm, thị trường quà tặng càng trở nên nhộn nhịp. Quà cho sếp, quà cho người thân, cho bạn bè, … và cho cả chính mái ấm của mình. Thế nhưng, trong số các loại quà được bày bán, những chai rượu, thùng bia luôn được nhiều quý ông nghĩ đến đầu tiên.

Hầu như giỏ quà nào cũng có bia hoặc rượu nhưng nếu thêm hộp DEAWOONG URSA-S vào thì giỏ quà thật sự khác biệt và có ý nghĩa

Cuối năm, trong hành lý của những đứa con xa quê trở về, những chai rượu thường mang theo để tận hưởng những ngày đoàn tụ. Trước là để dâng lên ông bà, cha mẹ, sau là để nâng ly họp mặt cùng anh em họ hàng. Còn trong giỏ xách của các bà nội trợ, họ cũng phải chuẩn bị vài hộp rượu để chồng biếu sếp hoặc để chuẩn bị đón tiếp khách khứa bạn bè.


Người Việt có truyền thống trọng lễ nghĩa, kính trên nhường dưới. Do đó, tặng quà mùa lễ Tết cuối năm đã trở thành một nét văn hóa đẹp. Người dưới tặng quà cho người trên, bạn bè, đồng nghiệp mua quà cho nhau để bày tỏ tấm lòng. Rượu bia luôn gắn liền với những cuộc chung vui, sum vầy nên vào dịp lễ Tết, nó càng trở thành một món quà thịnh hành. Hình ảnh những cặp rượu mừng xuân được chấp nhận như một hình thức lễ nghi và trở thành sự lựa chọn quen thuộc của nhiều người.

Lễ lộc, tết nhứt là dịp thuận lợi nhất trong năm để các ông có thêm cơ hội thắt chặt tình thâm. Dù muốn hay không cũng phải đi chúc Tết, phải đón tiếp khách khứa suốt cả ngày. Vậy nên việc nâng ly liên tục là điều khó tránh khỏi. Nhiều bà vợ dù có xót đến đâu thì dịp cuối năm cũng tự động du di, thông cảm bớt cho chồng, coi đó là nghĩa vụ mà Tết nhứt nào các ông cũng phải làm, hay chí ít là tại “Tết mà, ông nào chẳng thế!”.
Rượu thì ai cũng biết tác hại đó nhưng chẳng lẽ lại chối từ khi nó là quà tặng, mà lại là quà chúc mừng Tết nhứt? Dù trong dạ không vui nhưng ai cũng phải rước “lộc” vào nhà, cho lộc luôn được đầy năm đầy tháng. Lễ tiệc qua đi rồi nhưng chất độc vẫn còn ở lại. Nó bám chặt và hủy hoại lá gan của các ông từng ngày. Xuân tàn, lá gan của một số ông cũng tàn theo xuân.
Mặc dù còn e dè với những tác hại của rượu nhưng do mang đậm tính lễ nghi truyền thống, rượu vẫn là quà tặng không thể nào bỏ qua được. những cặp rượu mừng xuân trở nên ý nghĩa hơn khi có thêm những hộp viên nang đặc biệt. Mang tác dụng thần kỳ giống như mật gấu, nó có thể giúp cho lá gan của quý ông được bảo vệ trước các loại độc tố.

Dewoong USA-S

Món quà thật ý nghĩa khi kèm thêm hộp DEAWOONG URSA-S

Click để mua hàng trực tuyến


Và đây hoàn toàn xứng đáng là món quà ý nghĩa vào dịp lễ lộc. Khi mà nhà ai nấy cũng đã đầy rượu bia, một món quà bảo vệ sức khỏe thế này còn gì hợp lý và giá trị bằng. Niềm vui ngày tết sẽ càng thêm trọn vẹn nếu vừa đảm bảo được sức khỏe, vừa được hết mình vui vẻ nâng ly cùng mọi người.
Quà tặng là để nói thay cho tấm lòng, vậy hãy để cho người thân, bạn bè hiểu hết được tấm lòng mà mình dành cho họ, chỉ đơn giản bằng những viên nang được bào chế đặc biệt.

Mùa xuân là mùa của những niềm vui, nhưng sẽ chẳng vui một chút nào nếu lá gan không còn chịu đựng nổi độc tố từ bia rượu. Một món quà xoa dịu lá gan vào dịp này âu cũng là một sự hữu ích. Và khi đó, mùa xuân mới thật sự là mùa khởi đầu cho những niềm hạnh phúc.

TẤN PHÁT

Khi mà cuộc sống ngày càng trở nên hối hả, người ta càng muốn được chăm sóc về mặt tình cảm, tinh thần. Và những món quà, đôi khi nho nhỏ nhưng là cả một niềm vui sướng vô bờ đối với người được tặng.

Danh ngôn có câu “Hạnh phúc là sự cho đi!”. Vậy hãy biết cách cho để món quà thật sự mang lại hạnh phúc cho cả hai phía. Ý nghĩa của quà tặng không nằm trong giá trị vật chất, không nằm ở sự lộng lẫy xa hoa, mà nằm ngay trong chính tấm lòng của người mang tặng. Có rất nhiều cách để người nhận thể hiện cảm xúc của mình, có thể là những nụ cười rạng rỡ, nhưng vẫn có thể là những giọt nước mắt lăn dài. Nhưng dù khóc hay cười, họ đều đang rất hạnh phúc vì biết rằng vẫn còn có người quan tâm đến họ. Cái mà họ cầm trên tay không chỉ đơn thuần là món quà mà còn là sự yêu thương.
Tìm quà cho nam giới
So với nữ giới, nhu cầu được tặng quà ở nam giới ít hơn nhiều. Vì thế tặng được một món quà ý nghĩa cho một người nam không hẳn là một điều dễ dàng. Nam giới là trụ cột của gia đình, họ phải tập trung nhiều vào công việc và duy trì các mối quan hệ. Ngoài ra họ còn có gánh nặng chăm sóc gia đình. Vấn đề sức khỏe là vô cùng quan trọng không chỉ đối với họ mà còn đối với cả gia đình họ. Một món quà quan tâm đến sức khỏe sẽ mang lại ý nghĩa thật sự không chỉ cho mỗi người nhận.

Tặng được một món quà ý nghĩa cho một người nam không hẳn là một điều dễ dàng


Giao tiếp giỏi là một trong những yếu tố mang đến thành công. Do đó, công việc của nam giới đòi hỏi phải tiếp xúc nhiều với bia rượu. Thế nhưng, yếu tố này có hai mặt, đằng sau sự thành công đó là lá gan bị thương tổn vì chịu nhiều độc tố. Một món quà dành cho gan là hoàn toàn hợp lý, vừa thể hiện sự quan tâm dành cho nam giới, vừa giúp họ an tâm và thành công hơn trong công việc. Những viên nang bào chế đặc biệt có tác dụng hiệu quả của mật gấu sẽ giúp người tặng không còn phải đau đầu để tìm quà cho nam giới.

Dewoong USA-S

URSA-S là thuốc rất có lợi cho gan.Đặc biệt có hiệu quả đối với người uống bia rượu

Click để mua hàng trực tuyến

Trau dồi sức khỏe khi xuân về

Sức khỏe là vốn quý giá nhất ở mỗi con người và nhu cầu chăm sóc sức khỏe chưa bao giờ là dừng lại. Do đó, một món quà cho vốn quý giá này luôn mang lại nhiều ý nghĩa bất ngờ, đôi khi ngoài cả sự mong đợi của người tặng. Thời điểm cuối năm sẽ là thời điểm tuyệt vời để thể hiện sự yêu thương của mình dành cho những người thân yêu bên cạnh. Giới mày râu như: những người ông, người cha hay người bạn trai, … hoàn toàn xứng đáng để nhận món quà được phát xuất từ trái tim.
Lá gan bình yên sẽ mang đến sức khỏe và nguồn năng lượng dồi dào để các đấng mày râu tiếp tục trên con đường sự nghiệp. Suốt cả một năm dài “đồng hành” cùng các quý ông trên nhiều bàn tiệc, cuối năm, cũng nên dành tặng lá gan một món quà. Đừng để đến khi nó đã thực sự “kiệt sức” và gây ra những tác hại nặng nề. Hãy là một người mẹ thương con, một người vợ yêu chồng, một người bạn tốt biết quan tâm đến bạn để lựa chọn một món quà xứng đáng.
Mùa lễ hội cuối năm đã bắt đầu, những buổi liên hoan cuối năm, tiệc đón tất niên, tân niên đang chờ đón các quý ông. Và tất nhiên, lá gan cũng sắp vào mùa “đón” độc tố. Một món quà tiếp sức cho gan, bảo vệ gan trước tác hại của bia rượu  trong thời điểm này sẽ là một món quà tuyệt vời.
Tặng quà cũng là một nghệ thuật - trao đi sự yêu thương bằng những cách riêng của mình. Và hãy để cho người tặng biết rằng họ xứng đáng được như thế!

XUÂN TRÍ

Thời sinh viên, khi phải trực trong bệnh viện, chúng tôi hầu như thức trắng đêm. Thức như vậy nửa đêm thường rất đói. Như bây giờ tất người ta sẽ nghĩ đến chuyện ăn 1 tô phở hay gì đó nhưng thời ấy chúng tôi đều bị “viêm màng túi mãn tính” nên mong ước đó thật là khó thực hiện.

Một cô bạn thân của tôi gia đình ở miền tây. Những đêm trực giáp tết, lúc đang đói như thế, bạn tôi luôn kể chuyện quê mình. Cô ta nói về những món ăn mà cô ta sẽ làm và sẽ ăn khi về quê nghỉ tết. Cứ sau mỗi lần “Tao sẽ nấu món…”, hay “tao sẽ ăn…” mắt cô ta lại sáng long lanh khiến cho bạn bè vừa hết sức buồn cười vừa thấy thèm ăn ghê gớm.

Ngày nay vấn đề ăn không đến mức quá khó khăn như trước nữa. Số người gặp rắc rối vì đã ăn quá nhiều ngày càng tăng. Nhiều nữ bệnh nhân khi gặp tôi than phiền một cách hết sức thành thật: “Trời ơi! Tôi ăn ít lắm, nhiều khi còn bỏ bữa nữa đó. Vậy mà không biết sao cứ lên cân hoài’. Thế nhưng nói một lúc, tôi phát hiện ra rằng tuy bữa chính bà ta ăn rất ít nhưng ăn vặt thì toàn những món rất ngọt hay rất béo, mà lại ăn suốt ngày. Lúc này bà bệnh nhân mới cười bẻn lẻn “Thèm quá, nhịn không nổi bác sĩ ơi”.

Vấn đề của các ông cũng không kém phần nan giải. Có lần tôi gặp một ông trung niên gan bị nhiễm mở nặng. Tôi nói

  • Anh nên cữ ăn chất béo, nhất là mở động vật
  • Dạ - anh ta gật đầu sốt sắng,

Tôi nói tiếp:

  • Bớt ăn bánh ngọt nhất là các loại bánh kem, bánh bơ.
  • Dạ, tui cũng ít ăn mấy thứ đó lắm.
  • Nhất là không uống bia rượu.
  • Trời! – anh ta la lên – hạn chế một chút thì được chứ không uống chút nào chịu sao nổi, bác sĩ?!

Trong khi vợ anh ta hết sức đắc ý thì anh ta nằn nì, cự nự cứ như những điều cấm đoán ấy là tôi tự ý nghĩ ra vậy. Đáng chú ý là anh ta đưa ra nhiều lý lẻ mà theo anh ta là “hết sức sát đáng” như Nhiều người cả đời không uống giọt rượu hay thỉnh thoảng lễ, tết mới uống mà vẫn bị bệnh gan; nhiều ông uống rượu quanh năm mà có thấy đau bệnh gì đâu?

 

Thế mới thấy đa số mọi người đều lẫn lộn về mối quan hệ giữa rượu và bệnh gan. Hiệp hội bệnh gan Hoa kỳ đã thấy rằng có sự hiểu lầm rất nhiều về mối quan hệ này. Nhân dịp năm mới sắp đến, khi mà nhiều bợm rượu đang háo hức chờ ngày “xung trận” tôi xin nói đôi điều về rượu và bệnh gan để các “bợm” và vợ của họ cùng tham khảo:

Rượu có thể gây nên bệnh gan?

Có, nhưng nó là một trong những nguyên nhân , và nguy cơ này phụ thuộc vào bạn uống nhiều hay ít và đã uống trong bao lâu. Có hơn 100 loại bệnh gan. Những nguyên nhân được biết như là: siêu vi , khiếm khuyết về di truyền , do thuốc, hóa chất , …….Những nhà khoa học vẫn còn đang tìm kiếm những nguyên nhân gây ra bệnh gan trầm trọng nhất.

Uống rượu bao nhiêu thì an toàn?

Bởi vì có những người nhạy cảm với rượu hơn những người khác. Vì vậy không có mức độ chính xác mà tùy thuộc cơ thể của mỗi người . Nói chung nếu uống rượu , không nên uống hơn 2 cốc một ngày.

Rượu có thể gây tổn thương gan dù uống ít?

Đúng vậy ,rượu có thể gây tổn thương gan dù uống ít nếu bạn dùng chung với thuốc có chứa acetaminophen. Khi bạn uống thuốc , bạn phải hết sức cẩn thận , không bao giờ dùng thức uống có cồn để uống thuốc.

Những người uống rượu thường xuyên có thể bị viêm gan do rượu?

Đúng vậy , viêm gan do rượu thường xảy ra ở người nghiện rượu, nhưng nó cũng xảy ra ở người thỉnh thỏang uống rượu. Phản ứng của gan với rượu khác nhau ở mỗi cơ thể con người.  

Nếu uống nhiều rượu gây nên bệnh gan gì?

Viêm gan do rượu là tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan kéo dài 1 đến 2 tuần. Triệu chứng gồm :chán ăn , buồn nôn , ói , đau bụng , sốt , vàng da , thỉnh thoảng có rối loạn tâm thần. Bệnh có thể diễn tiến đến xơ gan do rượu qua nhều năm. Xơ gan do tế bào gan bị tổn thương thường xuyên. Gan thấm mỡ là giai đoạn sớm của bệnh gan do rượu, nếu bệnh nhân ngừng uống rượu ở giai đoạn này bệnh có thể tự khỏi .

Viêm gan do rượu được chẩn đoán như thế nào?

Viêm gan do rượu không dễ chẩn đoán. Thỉnh thỏang triệu chứng có thể xấu hơn sau một thời gian ngừng uống rượu hơn là lúc đang uống rượu. Thông thường bệnh diễn tiến nặng sau thời gian uống rượu nhiều , cũng có thể gặp ở người uống rượu trung bình. Xét nghiệm máu giúp chẩn đoán bệnh . Chẩn đoán chính xác nhất là sinh thiết gan.

Nam hay nữ dễ bị viêm gan do rượu?

Phụ nữ dường như chịu tổn thương gan do rượu nhiều hơn ở nam giới. Ngay cả khi một người nam và một người nữ cùng cân nặng , uống cùng một lượng rượu thì thấy nồng độ rượu trong máu người nữ cao hơn nam. Vì lượng mỡ cơ thể nữ nhiều hơn nam, lượng nước ít hơn , sự hấp thu rượu khác nhau ở nam và nữ.

Có phải tất cả những người uống rượu bị viêm gan do rượu và dần dần tiến đến xơ gan?

Không hẳn vậy. Có một số người chịu đựng được tổn thương về thể chất và tâm lý do rượu gây ra và thoát được tổn thương gan trầm trọng . Xơ gan do rượu trong những người uống rượu khoảng 10-25%.

Viêm gan do rượu có khác gan thấm mỡ?

Khác nhau. Bất cứ người nào uống rượu nhiều ngay cả uống vài ngày cũng sẽ phát triển thành gan thấm mỡ , trong đó tế bào gan sưng lên chứa mỡ và nước. Gan thấm mỡ cũng có thể do nguyên nhân từ bệnh tiểu đường , béo phì , do dùng thuốc , suy dinh dưỡng nặng . Gan thấm mỡ do rượu có thể hồi phục khi ngừng uống rượu.

Có phải viêm gan do rượu thường đưa đến xơ gan?

Không . Phải bị viêm gan do rượu nhiều năm mới gây tổn thương gan nặng dẫn đến xơ gan . Nếu viêm gan do rượu được phát hiện và điều trị sớm , có thể ngăn ngừa được xơ gan.

Viêm gan do rượu thì nguy hiểm?

Đúng vậy . Có thể gây tử vong , đặc biệt nếu bệnh nhân có tổn thương gan trước đó . Những người uống rượu nhiều thường suy dinh dưỡng vì có thể kèm các bệnh khác ảnh hưởng nhiều hệ thống toàn cơ thể. Vì vậy phải sớm nhận biết và điều trị viêm gan do rượu để ngăn ngừa hậu quả nguy hiểm đến tính mạng.

Điều trị tốt nhất là ngưng uống rượu. Điều trị bao gồm dùng thuốc , chế độ dinh dưỡng tốt , nghỉ ngơi. Tránh thuốc và hóa chất có hại cho gan . Viêm gan do rượu có thể chữa lành và hồi phục tốt nếu biết ngừng rượu đúng lúc.

Xơ gan có khác viêm gan do rượu?

Có khác. Viêm gan là tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan . Trong xơ gan , tế bào gan bình thuờng bị tổn thương và bị thay thế bởi mô sẹo .Những mô này không thể thực hiện khả năng sống còn của gan.

Nguyên nhân gây xơ gan?

Có nhiều nguyên nhân gây xơ gan . Uống rượu thời gian dài là một trong những nguyên nhân gây xơ gan . Viêm gan mãn tính là nguyên nhân chủ yếu gây xơ gan.

Ở trẻ em, nguyên nhân thông thường là bệnh bất thường về đường mật , tổn thương ống mật , viêm gan lúc mới sinh . Trẻ em với những bệnh trên thường phải ghép gan.

Ở người lớn, ngoài nguyên nhân là viêm gan mãn tính còn thấy phổ biến xơ gan mật nguyên phát , người ta chưa biết nguyên nhân gây nên bệnh này , nhưng không phải do rượu . Xơ gan cũng có thể xảy ra do bệnh di truyền rối loạn chuyển hóa đồng , sắt , hoặc tiếp xúc độc chất kéo dài.

Người nghiện rượu có nên ghép gan?

Một số trung tâm từ chối ghép gan cho người nghiện rượu vì các bác sĩ cho rằng những người này sẽ uống rượu trở lại sau khi ghép gan . Một số trung tâm đòi hỏi , bệnh nhân phải ngừng uống rượu ít nhất 6 tháng trước và sau phẫu thuật , sau đó sẽ đưa những bênh nhân này vào chương trình giáo dục để cai rượu sau phẫu thuật.

Như vậy trong khi quí ông gặp vấn đề với rượu thì quí bà bị vấn đề về ăn vặt và ít vận động. Một số phụ nữ làm việc văn phòng luôn than phiền về chuyện tăng cân. Những người này dể béo phì và bị gan nhiểm mở.

……

Ăn uống là niềm vui thú tự nhiên của con người. Dân gian thường nói ăn tết. Cuối năm là dịp để bà con, bạn bè họp mặt ăn uống, thăm hỏi lẫn nhau. Tuy nhiên, tôi thành thật khuyên các bạn cũng phải nghĩ đến lá gan của mình và hiểu rằng cái gì thái quá cũng thành ra bất cập. Cuối cùng xin chúc các bệnh nhân gan có bảng xét nghiệm sau tết tốt hơn hay ít ra là bằng với kết quả trước tết.

Theo dr Thu Thuy

Trong dịp Tết, do bị mời ép nhiều nên không ít bệnh nhân ăn uống quá độ hoặc ăn những món không phù hợp, khiến các bệnh về gan bộc phát mạnh hơn.

 Hạn chế các món ăn có nhiều mỡ.
Những bệnh gan cần phải kiêng nghiêm ngặt

Việc thực hiện chế độ ăn nghiêm ngặt có ý nghĩa quan trọng đối với những người có bệnh gan mạn tính và lan tỏa như:

- Viêm gan do virus: ngay cả khi không phát bệnh, người nhiễm virus viêm gan vẫn phải cẩn thận, vì sự quá chén có thể tạo điều kiện cho virus đột phá, gây viêm gan.

- Gan nhiễm mỡ: thường gặp ở người nghiện rượu, tăng đường huyết hoặc mỡ máu. Những bệnh này thường là hậu quả của việc ăn uống quá nhiều chất bổ dưỡng.

- Viêm gan mạn tính, xơ gan. Trường hợp mắc các bệnh gan có tính khu trú (như áp-xe gan đã khỏi hoàn toàn, các u mạch và nang gan...) không cần quá kiêng cữ trong ăn uống.

Phải tiếp tục kiêng rượu

Nhất là các loại rượu nặng. Không nên vì cả nể hoặc ham vui mà quên mất bệnh tật của mình. Đối với rượu vang hay bia, có thể dùng để khai vị nhưng không nên uống nhiều (tối đa 1 lon bia hoặc 1- 2 chén nhỏ rượu vang mỗi ngày), cũng không nên uống đều đặn tất cả các ngày.

Các món ăn giàu mỡ - vốn rất nhiều trong dịp Tết - cũng không có lợi cho người mắc bệnh gan. Những người đã và đang bị phù (hoặc cổ trướng) vẫn phải tiếp tục ăn nhạt.

Bánh kẹo ngọt cũng là loại thực phẩm mà những người bị tăng đường huyết hoặc gan nhiễm mỡ cần hạn chế, không ăn quá lượng kẹo đã được thầy thuốc quy định. Đối với người bị tăng đường huyết, để không làm giảm khẩu vị, có thể dùng các chất tạo ngọt không sinh năng lượng để cho vào cà phê, nước hoa quả và các thức ăn, đồ uống khác.

Cần bảo đảm đủ 50 - 60g đạm mỗi ngày từ nguồn động vật (thịt bò, thịt lợn nạc, thịt gà vịt bỏ da, tôm cá) và thực vật. Tuy nhiên, không nên ăn quá nhiều đạm vì lá gan bị bệnh sẽ không đủ khả năng chuyển hóa hết các chất này, gây khó tiêu và đầy bụng. Lượng amoniac (chuyển hóa từ đạm) không được gan xử lý hết sẽ biến thành u-rê, gây tác hại cho cơ thể.

Ngoài ra, người bệnh gan phải cẩn thận hơn trong việc giữ vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngày Tết. Ở những người bị viêm gan mạn tính đang ổn định, các chứng tiêu chảy và ngộ độc thức ăn có thể gây ra một đợt tiến triển, có khi rất nặng. Những rối loạn về tiêu hóa cũng có thể làm cho bệnh xơ gan trở nên nặng hơn, gây phù hoặc cổ trướng.

GS. NGUYỄN XUÂN HUYÊN

 Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, số phụ nữ chịu ảnh hưởng từ rượu đang tăng lên trên toàn thế giới. Dù muốn hay không nhưng có một sự thật là rượu ảnh hưởng khác nhau trên cơ thể của phụ nữ và đàn ông.
 

Về hình thể, phụ nữ thường nhỏ hơn nam giới vì thế với cùng một lượng rượu thì mức độ tập trung cồn trong cơ thể phụ nữ cao hơn.
 
Số lượng mô trên cơ thể phụ nữ dầy đặc hơn nam giới và trong các mô này thường nhiều chất béo nên chứa rất ít nước, vì thế cơ thể phụ nữ có ít nước hơn để pha loãng các chất có hại trong rượu.
 
Phụ nữ có ít enzyme có tác dụng chuyển hóa rượu hơn nam giới nên nồng độ cồn trong máu phụ nữ thường cao hơn.
 
Khi hóc môn sinh dục nữ tăng cao, ví dụ như trong giai đoạn tiền kinh nguyệt, phụ nữ dễ say hơn bình thường.
 
Uống rượu thường xuyên cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư vú.

Người ta nói rằng, rượu là thứ nghịch lý lớn nhất của loài người, vì trong một chiếc ly bé nhỏ, nó chứa đựng cả sự cao sang và cái dung tục. Nhưng trên hết, uống rượu vô độ là nguyên nhân của hàng loạt căn bệnh hiểm nghèo, là cơn bão làm tan lìa bao mái ấm.Thiệt người, hại của

Trên thế giới không thể quy ra tiền tất cả các tác hại của rượu đã gây ra cho nhân loại mỗi năm. Chỉ tính riêng tại Pháp, rượu chè là “tên sát thủ” thứ ba, sau con số các bệnh nhân chết vì ung thư và các bệnh tim mạch. Báo Le Monde nói hàng năm có khoảng 50.000 người Pháp chết do uống rượu.

 

Đặc biệt rượu “gặt hái mạng sống” của người trẻ tuổi rất dữ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong năm 2006, rượu là nguyên nhân số 1 gây tử vong cho thanh niên châu Âu tuổi từ 15 - 29. Chẳng bao lâu WHO tiên đoán trong nhiều xứ Đông Âu cũ, cứ 3 người trẻ sẽ có 1 người chết do lạm dụng rượu gây nên.

Đã vậy rượu còn là tác nhân rất lớn trong các vụ bạo hành gia đình và cưỡng dâm. Theo một cuộc điều tra ở Pháp thì trong số các cuộc tấn công và cưỡng hiếp, rượu là lý do hàng đầu. Tờ báo Polityka của Ba Lan cho hay, có 75% phụ nữ xứ này có chồng “sáng say chiều xỉn” đã là nạn nhân của bạo hành gia đình.

Còn tại Nhật Bản, báo Mainichi Daily cho biết thiệt hại do rượu chè gây ra cho kinh tế Nhật mỗi năm lên tới 55 tỉ đôla. Con số này ở Mỹ là 184,6 tỉ đôla, nghĩa là cứ mỗi công dân Mỹ bị “tước mất” khoảng 638 đôla do “ma men”gây ra.

 

 Nhức đầu, nặng đầu sau uống rượu bia, nhiều người "chơi" ngay vài viên pamin, decolgen, thậm chí là aspirin... Đa phần trong số họ không biết thành phần chính của loại thuốc này là paracetamol và rất có hại cho chức năng gan nếu trong người có chất cồn.
 
Theo BS Trần Văn Phúc, BV Xanh Pôn, Hà Nội, paracetamol là thành phần chính trong các loại thuốc giảm đau, hạ sốt, chữa cảm cúm... ít tác dụng phụ, hiệu quả và khá an toàn. Song, nếu dùng quá liều hay coi đó như một loại thuốc giải rượu thì có thể gây ngộ độc nặng và ảnh hưởng rất xấu đến chức năng gan, thậm chí gây hoại tử gan khiến người bệnh có nguy cơ tử vong.
 
Hay như Aspirin, một loại thuốc mà nhiều người dân, nhất là ở các vùng nông thôn vẫn quen dùng để giảm đau, hạ sốt, khi uống phối hợp với rượu sẽ gây kích ứng niêm mạc dạ dày, chảy máu đường tiêu hóa.
 
Theo BS Phúc, hai loại thuốc này đều giảm đau, nhức đầu rất hiệu quả. Vì thế, sau uống rượu mà dùng loại thuốc này, họ sẽ thấy hết nhức đầu, dễ chịu. Nhưng đây chỉ là lợi trước mắt, nó kéo theo một mối nguy cho sức khoẻ con nguời sau này.
 
Vì paracetamol là một loại thuốc có ảnh hưởng rất xấu đến chức năng gan khi uống quá liều và uống chung với rượu. Lý do là khi ngộ độc paracetamol, nồng độ paracetamol trong máu quá cao, vượt quá khả năng khử độc của gan, khi ấy chất độc tích lũy lại gây hoại tử tế bào gan.
 
Trong khi đó, khi uống rượu vào cơ thể, gan cũng phải làm việc cật lực để thải các chất độc từ rượu ra ngoài (nhất là với các loại rượu nấu thủ công, gan càng phải làm việc nhiều hơn). Người uống rượu nhiều, chức năng gan đã yếu, uống paracetamol vào càng tạo điều kiện thuận lợi để chất độc phá huỷ gan.
 
"Vì thế, uống rượu đã hại cho gan, nay lại dùng paracetamol để... giải rượu thì thật là con dao hai lưỡi, người say ít cảm giác choáng, nhức đầu ngay sau đó nhưng bù lại, gan lại phải làm việc gấp đôi. Nếu vượt quá khả năng khử độc của gan, khi ấy, chất độc tích lũy lại gây hoại tử tế bào gan. Tình trạng hoại tử lan rộng sẽ dẫn đến suy gan cấp", BS Phúc nói.
 
TS Phạm Duệ, Phó Giám đốc TT Chống độc Bệnh viện Bạch Mai cũng cho rằng, đến này, chưa có nghiên cứu nào cho rằng paracetamol có thể "giải rượu". Theo điều tra những bệnh nhân từng phải nhập viện vì ngộ độc paracetamol, rất nhiều người bị suy yếu chức năng gan có lý do từ việc uống loại thuốc này để giảm đau nhức mà không để ý mình vừa uống rượu bia cách đó chưa lâu.
 
Vì thế, tuyệt đối không nên uống rượu khi dùng thuốc để giảm nguy cơ ngộ độc cho gan. Hơn nữa, để phòng ngộ độc paracetamol do dùng quá liều, người bệnh không nên uống nhiều loại thuốc cảm cúm cùng một lúc, vì đa phần các loại thuốc này đều chứa thành phần có chất paracetamol. Khi có biểu hiện ngộ độc, bằng mọi cách phải gây buồn nôn, và đưa ngay đến bệnh viện cấp cứu.
Sau khi thua liên tục 2 ván bài, phải chịu phạt hai chén rượu, cậu bé 12 tuổi muốn dừng lại nhưng bị mấy người lớn “kích”: “Vài chén ăn thua gì. Uống đi, say thì về ngủ”. Đứa trẻ đành ngồi lại uống tiếp…
 
Đây chỉ là một trong vô số trò đùa tai hại của người lớn dành cho con trẻ ở nhiều làng quê Hà Tĩnh hiện nay. Chuyện người lớn ép trẻ con uống rượu vẫn xảy ra như cơm bữa nhưng không được lưu tâm, cho đến khi xảy ra cái chết đau lòng của cháu bé Nguyễn Văn Hường (xã Cẩm Thằng, huyện Cẩm Xuyên) sau khị bị cha ép uống rượu.
 
Đủ kiểu “ép” trẻ uống bia rượu
 
Một đồng nghiệp của chúng tôi kể: Khanh và Huyền (tên nhân vật đã được thay đổi - PV) cưới nhau được 8 năm mới sinh được đứa con đầu lòng. Niềm vui như được nhân lên gấp bội khi đó là một bé trai kháu khỉnh. Mong mãi mới được cậu quý tử nên hai vợ chồng chiều con lắm.
 
Vốn làm nghề buôn bán, có nhiều mối quan hệ, nhà lại nằm ở giao lộ trung tâm nên hai vợ chồng Khanh thường có khách ghé thăm. Và trong mỗi bữa cơm tiếp khách ấy không thể thiếu bia, tất nhiên cháu bé trở thành tâm điểm của cuộc vui. Chiều con, Khanh nghĩ ra đủ trò để con thích. Trong bữa ăn, Khanh thường lấy đũa nhúng vào ly bia rồi cho con trai mút. Mỗi lần như vậy, cậu bé nhăn mặt rồi đòi mút tiếp, khiến Khanh rất khoái chí.
 
Cứ như thế, thằng con quý tử thèm bia lúc nào không hay. Vợ chồng Khanh kể, mới hơn 3 tuổi mà có hôm nó làm gọn nửa lon bia. Cứ thấy khách đến uống bia mà không cho là cậu bé lại khóc đòi.
 
Ở huyện miền núi Hương Khê lại có chuyện cháu bé mới 3 tuổi thích sống với ông ngoại hơn với bố mẹ. Ông ngoại là một cán bộ đã về hưu, mỗi bữa cơm ông đều uống 1-2 chai bia giải khát. Và lần nào cũng vậy, ông đều rót cho cháu một ly bia nhỏ. Ban đầu đứa trẻ không thích nhưng được ông cho nếm mãi thành quen. Có hôm ông ngoại phát hoảng vì thấy thằng cháu say bia nằm bí tỉ suốt một ngày liền.
 
Một trò đùa đáng sợ khác của người lớn thường diễn ra trong đám cưới. Một nhóm người lớn đứng ra làm trọng tài cho mấy đứa trẻ thi chơi bài uống rượu. Sau khi thua liên tục 2 ván bài, phải chịu phạt hai chén rượu, một cậu bé chừng 12 tuổi đứng dậy định thôi nhưng lập tức bị một người lớn tuổi “kích”: “Vài chén ăn thua gì. Uống đi, say thì về nhà ngủ”. Cuộc chơi lại được tiếp tục, và chai rượu trắng chốc lát đã bị mấy đứa nhỏ “cưa” sạch! 
 
Đến những câu chuyện đau lòng
 
Không ít trường hợp những trò đùa ép trẻ uống rượu tai hại của người lớn đã phải trả những cái giá quá đắt.
 
Trung tuần tháng 7, cả huyện Kỳ Anh bàng hoàng sau cái chết oan uổng của em Trần Đình Dương, 13 tuổi. Nhiều người dân ở đây kể lại, hôm ấy hàng xóm cạnh nhà Dương có bữa tiệc nhỏ, Dương cũng ghé chơi. Đang ngà ngà thì mấy chai rượu đã cạn, mấy người lớn liền đưa tiền nhờ Dương ra quán mua thêm rượu. Thấy thằng bé nhanh nhẹn, “được việc”, đám người lớn liền thưởng cho Dương mấy chén rượu.
 
Được tâng bốc, Dương uống 1 chén, rồi 2 chén… Đến khi chai rượu cạn thì cũng là lúc Dương gục xuống, sùi bọt mép. Những cơn ói liên tục vì ngộ độc rượu sau đấy đã khiến Dương suy sụp rất nhanh, và em đã tử vong sau trận rượu ấy vài ngày.
 
Đám người lớn hôm ấy ân hận thì đã quá muộn. Mọi đau khổ giờ chỉ mẹ Dương, chị Thái Thị Tình, lĩnh trọn. Chị Tình là người có hoàn cảnh éo le, sống độc thân, chỉ có cháu Dương để nương tựa tuổi già sau này. 
 
Thương tâm nhất vẫn là cái chết gây chấn động dư luận của cháu bé Nguyễn Văn Hường (thôn 4, xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên) sau trò đùa không thể tha thứ của người cha Nguyễn Văn Tiến, hôm 22/7 vừa qua.
 
Mới sáng sớm, Tiến đã tìm đến rượu để mua vui. Ngồi nhậu một mình buồn chán, Tiến cho gọi cả hai đứa con trai Nguyễn Văn Lý (12 tuổi) và Nguyễn Văn Hường (7 tuổi) vào “hầu rượu”. Tiến nói với 2 con: “Chúng mày là con của tao thì phải biết uống rượu” rồi lớn tiếng bắt Lý rót rượu cho em. Lý lớn hơn nên dám cưỡng lời cha; Hường mới 7 tuổi, nhìn khuôn mặt cha dữ tợn, quá sợ hãi nên đành cố nhắm mắt uống hết những chén rượu cha “mời”.
 
Và điều gì đến phải đến, khi chén rượu cuối cùng vừa dứt cũng là lúc Hường vật vã vì cơn say. Chị Lê Thị Phượng, mẹ của hai cháu trở về nhà đã thấy con nôn thốc nôn tháo. Hoảng hốt, chị Phượng đưa con tới viện nhưng mọi chuyện đã quá muộn. Cháu Hường đã tử vong ngay trên đường đi cấp cứu.
 
Chuyện người lớn mua vui, đùa ép con trẻ uống rượu đã không chỉ còn là lời cảnh báo. Những cái chết thương tâm, oan uổng; những hậu họa đau lòng khó lường đã xảy ra. Khi đó, trò đùa trở thành tội ác!
 
Văn Dũng
Nói rượu bia là cô gái nham hiểm bởi vì nó dễ gây ngộ nhận làm cho người ta tưởng uống rượu nhiều cũng không sao nên uống vô độ đến trở thành nạn nhân của sự tác hại của rượu bia.

Tất cả thức uống có rượu đều chứa cồn, từ rượu cao độ chứa rất nhiều cồn là rượu đế đến bia nhẹ "đô" hơn vẫn chứa lượng cồn đáng kể. Đối với cơ thể ta, cồn được xem như là chất độc không hơn không kém.

Khi uống thức uống có cồn, rất nhiều cơ quan trong cơ thể ta phải làm việc cật lực để giải độc và thường là thích ứng với sự độc này. Rượu bia là kẻ nham hiểm bởi vì nó không làm cho kẻ uống nó ngộ độc tức khắc (trừ trường hợp ngộ độc nặng như kiểu uống rượu dỏm chứa độc chất methanol đưa đến tử vong) mà phá hủy cơ thể người dùng nó một cách ngấm ngầm, để đến lúc nào đó trở thành người nghiện rượu gục xuống trong cơn bạo bệnh không thể cứu chữa được.

Cơ quan chịu tác động nhiều nhất của rượu là hệ thần kinh trung ương (uống rượu lâu dài sẽ bị nghiện rượu là bệnh được xếp vào nhóm "bệnh tâm thần" ngang hàng của nghiện ma túy), kế đến là gan (dễ bị xơ gan), rồi đến dạ dày tá tràng (bị viêm loét dạ dày - tá tràng, xuất huyết tiêu hóa)...


Năng lượng "vô bổ"

Rượu bia có cung cấp năng lượng nhưng lại là năng lượng "vô bổ", tạo phản ứng đốt cháy trong cơ thể để người uống rượu bia có cảm giác nóng bừng lên thôi chứ không thêm sức lực. Người uống rượu bia thấy nóng, có vẻ chịu được rét nhưng xin lưu ý hiện tượng có cảm giác nóng bừng là do rượu làm giãn mạch máu (uống thấy mặt đỏ là vậy), có tác dụng tải nhiệt qua da chứ không làm tăng thân nhiệt để chịu lạnh rét. Chính hiện tượng này làm người uống rượu bia dễ mất cảnh giác không sợ lạnh, ngủ mình trần rất dễ bị cảm lạnh mà nhiều người gọi là "trúng gió”. Ta nên lưu ý hiện tượng này để đừng say xỉn quá, ngủ bạ đâu đó, không có sự che đắp cần thiết đưa đến bị bệnh.

Nhiều người trông thấy kẻ uống rượu bia như bị kích thích, nói năng có khi bất chấp, dám có những hành động bình thường không dám làm nên tưởng rằng rượu có tác dụng "kích thích". Thật ra rượu bia chỉ có tác dụng ức chế (trong dược lý học, rượu được xếp vào nhóm thuốc gây mê, tức nhóm thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương).

Rượu bia ức chế vùng vỏ não điều khiển sự tự chủ, biết kiềm chế của chúng ta. Nếu vùng vỏ não này bị ức chế, ta sẽ tung hê, dám làm những việc trước đây không dám làm và cứ tưởng là bị kích thích. Uống nhiều rượu bia sẽ làm tê liệt hệ thần kinh tự chủ, sự phán đoán và ý thức đạo đức. Hậu quả tất nhiên của việc lạm dụng rượu bia sẽ đến là hành vi bạo lực, tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội. Uống nhiều rượu bia, người ta dễ buông thả trong tệ nạn "bia ôm" và bất kể trong vấn đề an toàn tình dục. Không an toàn trong hoạt động tình dục chắc chắn vào cửa tử là nhiễm HIV/AIDS.
Kẻ thèm say thì đức hạnh kém suy; kẻ uống rượu thì nói năng lầm lỡ.
Khí xông nát dạ, vị ngấm hư lòng, rối loạn tinh thần, hôn mê tâm tính.
Mẹ cha không nhìn, điều ác luôn phạm.
Hoặc điếm chợ huyên thuyên, hay ngõ đường lảo đảo.
Chửi trời mắng đất, chê Phật, gièm tăng.
Miệng lảm nhảm hát ca, thân lõa lồ nhảy múa...
Há riêng kẻ phong lưu nên tránh, ngay cả người thông đạt cần phòng.
Biết bao kẻ trên đời rạng rỡ, đều chìm trong chén rượu đảo điên
Nước ta có trên 10 triệu đàn ông trong độ tuổi uống rượu, bia (25-54 tuổi). Đây là lực lượng lao động chính làm ra của cải vật chất cho xã hội.

Làm việc tại một công ty cổ phần ở Hà Nội (HN), Quang (34 tuổi) có thu nhập và trình độ trung bình, có một lối sống với thời gian biểu rất bình thường: sáng ăn phở, trưa cơm hộp và khoảng 5 giờ chiều thì nhắn tin (và cũng nhận tin): đi nhậu chứ!

Tôi gặp Quang và nhóm bạn nhậu của anh tại một quán bia hơi trên phố Hoàng Diệu. Trong lòng rộng hàng ngàn mét có hàng ngàn thực khách đang uống bia. Tất cả đều hưng phấn và sung mãn. Liên tục nâng cốc trăm phần trăm. Theo Quang, một tuần anh nhậu ba bữa, nhưng đi khỏi HN thì mỗi ngày một trận nhậu. Anh bảo sợ nhất là đi công tác miền núi. Những vùng đất cằn khô đến mấy cũng dạt dào, lênh láng rượu. Rượu đựng trong ấm tích, phích nước, ống bương, can lớn, chai nhỏ, trong dạ dày trâu bò, trong săm ôtô...

“Văn hóa nhậu” hiện đại ở Hà Nội là rượu rót phải “cao bằng” (rót bằng nhau), nâng chén phải “bắc cạn (cùng cạn hết), không được “qua phà” (bỏ lượt). Trong uống rượu cũng có muôn ngàn chiêu thức, thủ đoạn. Phần lớn dân nhậu đều uống quá mức mình muốn vì cả nể, sĩ diện hay đua đòi. Khi thấy mệt, một số dùng thủ thuật uống giả như lén đổ đi, đánh tráo nước trắng, nước ngọt, uống thuốc chống say...

Khi có bè cánh thì dùng “xa luân chiến”, tức là nhiều người thay nhau chuốc một người. Khi khích bác, thách đố thì thi uống cho đến khi một kẻ đổ gục. Trong tiệc, nhiều người “dũng cảm” thể hiện sức mạnh của mình bằng cách nhấc chai rượu 65ml ngậm vào miệng, dốc ngược tu đến hết mới bỏ xuống. Có tay uống bia xếp vỏ chai dài bằng cả sải tay.

Một “bợm nhậu” cho tôi biết anh đã có mặt ở 90% các quán bia rượu ở HN. Xưa số 1 về bia hơi là quán bò tùng xẻo trên đường Láng Hạ, sau có “Hải Xồm”, “Lan Chín” không ngừng mở mang cơ sở. Những quán bia sang trọng như bia tươi, bia Đức, bia Tiệp... thì có khắp nơi. Quán “100 loại bia” trong khu đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính thì toàn bia giá trên 100.000 đồng/chai. Còn các quán có tên Ngà Vinh, Tuấn Hùng, Nam Hải, Ngọc Anh, Mai Lan, Xuân Hiệp... thì có thể nhìn thấy ở bất cứ đâu. Trên một đoạn đường ngắn chừng 1km là phố Bắc Sơn nối Ngọc Hà, Lê Hồng Phong cũng có tới năm quán bia lớn.

Số quán rượu ở HN thì nhiều hơn quán bia và hầu như cứ hai ba con phố lại có một hay nhiều tửu điếm, tửu quán, tửu lầu. Tụ tập đông nhất là khu phố Ngọc Khánh với hàng chục quán rượu. Những quán không chuyên nhậu cũng đều có rượu bia. Ở HN hiện nổi lên mạnh nhất là một quán rượu dân tộc và mốt “vodka Hà Nội”.

Có tới hàng trăm quán rượu dân tộc với vô số cái tên đầy hương vị quê nhà hay truyền thống như Quê Mình, Bắc Sơn, Tây Bắc, Làng Tôi, Lý, Hương... và... kiếm hiệp: tửu quán, tửu lầu, tửu điếm, phạn điếm... Điểm chung là rượu các quán này đều tự pha chế từ rượu nấu thủ công ngâm với các loại thuốc nam, bắc, động thực vật khác nhau từ rắn, rết, bọ cạp, bìm bịp, gấu, bao tử dê, ngọc dương, ong đất, cá ngựa, tắc kè, sâu chít... đến táo mèo, mơ, cúc...

Những quán rượu có không gian rộng thường bày những bình, vò sành sứ lớn, bịt vải điều, dán chữ kiểu thư pháp trông rất bắt mắt. Nhiều quán vùng ngoại vi thì chôn vò dưới đất, cất giấu trong hầm... Tóm lại tất cả đều rất sang trọng, kỳ bí và gợi cảm. Tuy nhiên, chỉ chất lượng rượu thì không ai dám khẳng định. Mốt uống vodka của Nhà máy Rượu HN sản xuất mới nổi ở HN cách đây hai năm. Tuy nhiên rượu này ít có ở các quán rượu dân tộc và nếu được phục vụ ở đây thì thường với giá rất cao so với giá gốc.

Chính sách phòng ngừa lạm dụng rượu bia: quá thiếu, quá yếu. Đó là nhận định của báo cáo khoa học mang tên “Đánh giá tình hình lạm dụng rượu bia tại VN” (năm phần chính, dài 77 trang) vừa được công bố.

Báo cáo trên đã đưa Ra các kết luận đáng chú ý sau: tốc độ sản xuất, lưu thông và sử dụng rượu bia ở VN gia tăng rất mạnh; 95,7% lượng rượu được sử dụng là nấu thủ công và các chính sách quản lý tình hình lạm dụng rượu bia gần như bị bỏ trống hoặc kém hiệu lực. Hiện VN chưa có chính sách tổng thể đối với việc phòng ngừa lạm dụng rượu bia.

Hai lĩnh vực quan trọng nhất là sản xuất, lưu thông và tiêu dùng chỉ có một vài chính sách nhưng cũng đã lạc hậu. Cụ thể là việc cấp giấy phép kinh doanh chưa có các qui định cụ thể. Việc quản lý sản xuất bị bỏ trống tới 90% sản lượng. Những qui định về cấm bán rượu cho trẻ em không có hiệu lực. Quản lý về quảng cáo mới làm tốt đối với các phương tiện thông tin đại chúng. Còn các chính sách tác động đến người sử dụng như công chức không được uống trong giờ làm việc, hay đo nồng độ cồn người tham gia giao thông gần như không có hiệu quả.

Theo hướng dẫn của một cán bộ Huyện đoàn Củ Chi (TP.HCM), tôi tìm về xã An Nhơn Tây, nơi đang trên đà đô thị hóa và được qui hoạch là thảo cầm viên trong tương lai. Dạo một vòng quanh xã, cùng với phố xá phát triển, các quán nhậu cũng đua nhau mọc lên rầm rộ.

Tờ mờ sáng, Tư Khang ôm củi Ra sân phơi chuẩn bị cho vợ hấp nồi bánh bò. Nhưng đi chưa được vài bước thì tay chân run lẩy bẩy, mớ củi rớt phịch xuống đất văng tung tóe. Anh khom người lượm từng khúc củi trong lúc cái miệng ngáp ngắn ngáp dài. Rồi anh đứng lên vô nhà, cũng với cái dáng vừa đi vừa run. Từ ngoài sân nhìn vô, tôi cứ nghĩ anh bị di chứng sau tai biến não và cũng có thể ghiền... xì ke.

Hội người... Run

Chưa đầy năm phút sau lại thấy anh lò dò từ trong nhà đi ra. Lần này thì không thấy củi mà là... chai rượu đế cặp bên nách. Anh mở nút chai tu một ngụm. Rồi ngụm thứ hai, thứ ba... Bỗng chốc người anh tươi tỉnh, hoạt bát hẳn lên như cây héo được tưới nước. Trong một loáng anh đã phơi củi xong. Lạ một điều là lúc này không thấy tay chân anh run rẩy nữa. Tư Khang tâm sự: “Thú thiệt với ông chớ tui sáng mở mắt ra là phải làm vài ngụm rượu đế mới làm công chuyện được. Nếu không tay chân nó cứ run lẩy bẩy hổng chịu nổi”.

Ở cái xã An Nhơn Tây (huyện Củ Chi, TP.HCM) này nói tới Tư Khang không AI không biết mặt. Nhà nghèo, ba con, vợ ngày nào cũng hấp nồi bánh bò đội Ra chợ bán kiếm gạo qua ngày. Kiếm gạo đã khó, kiếm rượu càng khó hơn. Vậy mà bữa nào anh cũng kiếm được đều đặn hai ba xị. Anh lý luận: “Rượu cũng từ gạo mà Ra. Tui uống rượu thì không ăn cơm, bù qua sớt lại đâu mất mát gì”.

Bạn rượu của Tư Khang cũng không thiếu. Những Năm Tý, Ba Bửu, Chín Nổ, Tư Thừa, Sáu Chơn... dân ấp Chợ Cũ này thảy đều chạy mặt. Có người còn nói “thấy bóng dáng mấy chả là con nít sợ hết hồn”. Lý do là AI cũng mắt sâu má hóp, người rút lại như con mắm, tay chân run rẩy, miệng lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Tuổi đời của họ chừng băm mấy nhưng trông già khọm như U50. Cứ mỗi sáng sớm, sau khi uống cà phê đen lót dạ, họ rủ rê nhau “làm một xị”. Mồi màng không cần ngon, chỉ cần “bén” là được. Thường thì cóc ổi, con khô là đủ cho một “độ”. Đặc biệt, trong nhóm có anh Sơn mới 35 tuổi nhưng cái nết nhậu của anh cả xóm đều kinh dị.

Cứ mỗi buổi chiều, Sơn lò mò đi qua các quán nhậu đông đúc. Tới bàn nào Sơn cũng tấp vô hỏi “ai kêu tui đó?” rồi không đợi trả lời, cũng chẳng cần quen biết, anh “tự nhiên như ruồi” bưng ly rượu nốc cái “trót” ngon lành. Cứ mỗi bàn Sơn “lỳ một lam” (làm một ly) cho tới khi giáp quán. Sau đó anh lại lò mò qua quán khác, cũng uống cho tới lúc... giáp hết các bàn.

Bữa nào Sơn cũng đi một vòng các quán rồi mới chịu về ngủ. Mà ở ấp Chợ Cũ này có không dưới 20 quán nhậu lớn nhỏ. Dì Năm Xe, chủ quán cháo vịt ở ngay ngã tư, cho biết: “Thằng Sơn nó hơi tưng tửng chớ nếu không mấy bạn nhậu bầu nó làm chủ tịch hội người run xóm này rồi. Còn nói “thiên hạ đệ nhất tửu” thì mấy ông trong hội người run này rất đáng mặt anh hào, bởi mỗi ngày mấy cha này uống rượu còn nhiều hơn người ta uống nước lã”.

Xơ gan thần chưởng

Dân nhậu thường kháo nhau “trên đời này có cái mả nào đề tên thằng cha đó chết vì rượu đâu!”. Và vì vậy anh em cứ mặc sức nhậu. Nhưng người dân xã An Nhơn Tây này đã đúc kết có lắm người chết vì rượu rồi đó. Chú Chín Dân, một cựu chiến binh đã về hưu, cho biết: “Ở ấp Bến Mương kế bên có hai anh em thuộc hàng cao thủ trong “tửu lâm”. Người anh tên Thiệp, còn em là Thức. Họ được bà con đặt cho biệt danh “xơ gan thần chưởng”.

Từ nhiều năm qua, cứ sáng mở mắt ra là hai cha gầy sòng nhậu. Bữa nào có đám giỗ hoặc cưới thì quắc cần câu tới tối. Riết rồi thân hình hai chả teo quắt, tay chân suông đuột. Chỉ được có cái bụng, nhưng nó bự chớ không mập. Mỗi lần vạch bụng ra là thấy nó tròn tròn, da mỏng tanh như bong bóng, đặc biệt là nước da vàng khè. Năm ngoái người ta thấy người em thường hay lui tới bệnh viện miễn phí nằm trong khu vực xã để trị bệnh. Nghe nói chả bị xơ gan.

Được vài tháng thì thấy vợ con vô chở xác về chôn. Ba tháng sau tới lượt người anh cũng vô bệnh viện. Rồi cũng chưa “qua hết con trăng”, ông anh cũng theo em về miền đất lạ. Đặc biệt, ông này còn được bà con đặt thêm biệt danh “cửu âm chân... teo” vì khi chết, hai chân chả teo quắt còn chút xíu”.

Mấy bà phụ nữ kháo nhau “rõ ràng là chết vì rượu, tấm gương sờ sờ trước mặt”. Sau đó, mấy bà vợ thường đem câu chuyện trên về hăm he ông nhà mình. Chẳng biết có épphê gì không nhưng xem ra nói như “nước đổ lá môn”.

Thậm chí có ông còn ngụy biện: “Có thần men trong người giống như có kháng thể. Con vi khuẩn nào vô là bị thần men diệt hết. Chưa kể nó còn có tác dụng dĩ độc trị độc. Làm sao bệnh được”. Dĩ độc trị độc đâu không thấy, chỉ thấy ngoài “xơ gan thần chưởng”, “cửu âm chân teo” còn có món “thổ huyết phục linh” đầy kịch tính.

Bà con ấp Bàu Đưng thường nhắc đến một cao thủ có tên Trọng Hữu như là nhân vật xưa nay hiếm. Mỗi lần gặp bạn bè, chẳng cần biết thân hay sơ, Hữu thường nói câu cửa miệng “tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” và uống tới sáng. Một bữa nhậu nọ, được chừng hai tuần rượu thì bỗng nhiên Hữu ôm ngực ho sặc sụa. Các bạn nhậu tỏ vẻ ngạc nhiên vì chưa từng thấy ổng “chạy độ” bao giờ.

Chưa kịp định thần đã thấy Hữu “ụa” một tiếng thật lớn rồi thì nôn thốc nôn tháo một hỗn hợp vừa thức ăn vừa... máu. Hoảng hồn, cả bàn tiệc hè nhau đưa Hữu vô bệnh viện. Bác sĩ nói “xuất huyết dạ dày”. Hữu nằm viện, vô nước biển, thuốc men cả tháng trời mới ra. Vậy mà ba bữa sau đã thấy ổng gầy sòng nhậu tiếp. Tội nghiệp cho chị Năm, vợ Hữu, than vắn thở dài: “Trong vòng chưa đầy hai năm, ổng vô bệnh viện bốn lần vì xuất huyết dạ dày. Vậy mà hổng tởn (chị lắc đầu), bó tay!”.

Những “đồng tửu” của Hữu cũng không hiếm người đã từng bị xuất huyết như vậy. Anh Ba Rọi làm nghề giữ vườn ở ấp Chợ Cũ đã từng hai lần vô bệnh viện; anh Minh thợ hồ cũng bốn lần truyền nước biển; và lúc về nhà cũng “vũ như cẫn”.

Bi kịch gia đình

Những ông chồng nhậu be bét nói trên thường khó có một gia đình hạnh phúc. Như “thần tửu” Thức chẳng hạn. Anh cũng có một vợ hai con đàng hoàng, nhưng chị không chịu nổi cảnh say xỉn tối ngày của anh nên lẳng lặng ôm con bỏ đi. Tới lúc nghe tin anh chết mới đưa con về chịu tang, gọi là “nghĩa tử nghĩa tận”. Thiệp cũng vậy. Hai vợ chồng phải ly dị. Sau khi anh mất chị cũng bóng chim tăm cá. Trọng Hữu thì bi đát nhất.

Anh hiện nay “chưa thấy gì” nhưng chị Năm chịu hết xiết đã dẫn con đi xứ khác làm ăn hồi đầu năm. Anh ở nhà thui thủi một mình. Lâu lâu chị mới về thăm để “coi ổng... còn sống không”. Còn Minh thợ hồ trước đây làm ăn khấm khá, kiếm được mỗi tháng cũng 1,5 triệu đồng; chị vợ đi lao động ở nước ngoài gửi tiền về cất được cái nhà. Từ khi anh nhậu nhẹt, nhà cửa bỏ bê không ai coi bị xuống cấp trầm trọng. Chị trở về giận quá chia tay luôn.

Ở xã Tân Thông Hội, bà con vẫn còn nhớ như in câu chuyện thương tâm: anh T.V.Đ đi nhậu về khuya bị vợ cằn nhằn. Anh nổi nóng xách cây rượt chị chạy, đứa con nhỏ thấy vậy chạy theo mẹ. Anh vung cây đánh chị lại trúng nhằm đứa con. Cháu bị chấn thương sọ não chết trên đường đi cấp cứu. Anh phải vô tù, còn chị bây giờ như điên như dại.

Không chỉ hại mình, “thần tửu” còn hại người. Tháng 6-2006, trên tỉnh lộ 7 thuộc địa phận xã Phước Thạnh, hai đệ tử lưu linh tuổi chừng 18-20 sau khi nhậu quắc cần câu đã phóng lên xe gắn máy làm một cuộc “đua tử thần”. Tới lúc cao điểm thì hai thần tửu đâm sầm vào một cô gái đi trong lề. Cô bị chấn thương sọ não, đến nay vẫn còn sống nhưng là cuộc sống thực vật. Nghe nói trước đó chồng cô cũng vừa mất vì một tai nạn giao thông.

Chị Tư Hồng, người bán vé số thường xuyên đi lại tuyến tỉnh lộ 7 này, cho biết: “Chuyện xe đụng ở đây xảy ra như cơm bữa. Hầu như 10 vụ thì hết tám là có nguyên nhân say xỉn. Tui đi đường thấy tai nạn riết hết dám đi luôn. Đi xe đạp cũng dính mà đi bộ cũng chẳng yên. Mấy cha xỉn đâu có mắt. Chẳng khác nào bị đạn lạc hồi chiến tranh vậy”.

Chiều An Nhơn Tây trời mưa rỉ rả. Chúng tôi thả một vòng quanh các quán nhậu. Anh Trần Văn Việt, một người chạy xe ôm ở địa phương, đưa ra lời nhận xét: “Ba năm trước đây, quán nhậu lèo tèo đếm trên đầu ngón tay. Nay đô thị phát triển nó mọc lên khá nhiều. Dân trong vùng được đền bù đất có chút tiền trong tay chưa biết làm gì, ngứa ngáy nên cũng nhậu lai rai. Lúc đầu là rượu đế bình dân, sau theo phong trào tăng “đô” cũng bia bọt cho ra vẻ. Các quán nhậu theo đà nâng chất phục vụ, đặc sản món gì cũng có, thậm chí “gác tay” cũng có luôn”.

Bia rượu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến gan

Gan là cơn quan khử độc số 1 của cơ thể. Đối với gan bia rượu là chất độc hại nên gan phải làm việc cật lực để loại thải chất độc này. Uống rượu bia nhiều và kéo dài khiến gan phải thường xuyên làm quá sức, gây ra nhiều rối loạn về cấu trúc và chức năng gan, lâu dài có thể dẫn đến nhiều bệnh lý như men cao gan, gan nhiễm mỡ, viên gan, xơ gan và thậm chí ung thư gan

Bia rượu gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới gan
Gan là cơ quan khử độc s 1 của cơ thể. Đối với gan, bia rượu là chất độc hại nên gan phải làm việc cật lực để loại thải chất độc này. Uống rượu bia nhiều và kéo dài khiến gan phải thường xuyên làm việc quá sức, gây ra nhiều rối loạn về cấu trúc và chức năng gan, lâu dài có thể dẫn đến nhiều bệnh lý gan như mengan cao, gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan và thậm chí ung thư gan, …
Theo thống kê gần đây tại các bệnh viện TP.HCM, số bệnh nhân xơ gan do bia rượu đang tăng nhanh và đứng thứ 2 trong các bệnh lý về gan, chỉ sau viêm gan siêu vi B. Điều này cho thấy nhận thức về tác hại từ bia rượu là có nhưng việc từ bỏ bia rượu thì không dễ dàng.
Hãy bảo vệ lá gan của bạn trước khi quá muộn
Trước đây, một số người sử dụng viên giải rượu nhằm giảm bớt triệu chứng say khi “lâm trận”. Tuy nhiên, các loại thuốc này nhanh chóng làm cạn kiệt hệ thống men chuyển hóa của gan và chỉ có tác dụng nhất thời, không thể bảo vệ gan lâu dài được.
Hiện nay khoa học đã khám phá và bào chế  được điều thần kỳ của mật gấu. Giờ đây, chúng ta có thể tìm thấy viên nang URSA-Schứa 1 thành phần chính của mật gấu ở khắp các hiệu thuốc; không những có công dụng bảo vệ gan trước tác hại của bia rượu mà còn có công dụng phục hồi các tế bào gan đã bị tổn hại.
Vũ khí lợi hại” đã trong tầm tay, nhưng chúng ta vẫn phải biết “dừng đúng lúc
 
Công dụng của mật gấu Có tác dụng thanh huyết, sát khuẩn, làm tan sỏi mật. Uống chữa các chứng bệnh thấp nhiệt, hoàng đản (vàng da), hồi hộp, sợ hãi, co dúm, lỵ lâu ngày, đau mắt đỏ kéo mạng, đau răng, trĩ dò, mụn nhọt, sỏi mật.
Công dụng của mật gấu
 
Tên khoa học: Selenarctos thibetanus G.Cuvier - Gấu ngựa, có khoang trắng hình chữ V ở ngực.
rsus arctos lisiotus Gray: Gấu chó, gấu nâu,đen, đều thuộc họ gấu (Ursidae).
Tên khác: Hùng (TQ) – Ours (Pháp) – Bear (Anh).
Bộ phận dùng: Cả cái mật đã chế biến khô của nhiều loài gấu (Fel Ursi) còn gọi là Hùng đởm (TQ), Bile d’ours (Pháp) – Bear gall (Anh). Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam (1997).
Mô tả con vật: Gấu là một loài động vật có vú khá lớn, loài gấu trắng Bắc Cực, gấu nâu vùng ôn đới, nặng trên 300kg, đứng cao gần 2m, trông dữ tợn, đầu to, tai bé,mũi hơi nhọn, công thức răng của gấu giống chó: 42 răng, bốn chân ngắn, 2 chân sau dài và phát triển hơn 2 chân trước, có thể đi, đứng, chạy, thường thì 4 chân, có bộ móng vuốt phát triển, trèo leo lên cây rất giỏi, bơi lội suối, ăn tạp, ăn cá, lá, hoa quả,rất thích đồ ngọt: mậtong, múi và sơ mít.
Đuôi ngắn, lông dày, đen, nâu đen (gấu Bắc cực lông trắng), Gấu trúc (Panda) thuộc loại rất quý hiếm.
Gấu sống hoang dại các rừng từ ôn đới, nhiệt đới (gấu trắng vùng tuyết), châu Âu, Á, Mỹ ...
Ngày nay đã được nuôi ở vườn thú, rạp xiếc, mới đây còn được nuôi để lấy mật.
Nuôi gấu rất dễ, gần như nuôi lợn, nếu thêm đường, mật...gấu ăn rất khoẻ.
Thu hoạch chế biến: Thu hoạch mật gấu quanh năm, về mùa đông thì lượng mật nhiều nhất, mùa xuân thì chất lượng tốt nhất (có lần ở một con gấu nặng 93kg lấy được 88,5kg mật tươi).
Trước khikia săn bắn, giết gấu, mổ lấy mật, buộc chặt ống dẫn mật lại treo nơi thoáng gió, khô mát hoặc làm khô trong bình hút ẩm.
Thủy phần dưới 15p100.
Ngày nay, để bảo vệ động vật khỏi bị diệt chủng mỗi khi lấy mâjt phải giết gấu, hơn nữa để bảo đảm chất lượng không bị giả mạo, nhất là mật gấu rất đắt tiền và khó kiểm nghiệm, ngườita còn nuôi gấu, tiến hành phẫu thuật khi con gấu đang sống, rối cắm ống dẫn lưu vào túi mật để lấy mật chủ động số lượng và định kỳ.
Trung bình 1 con gấu 1 năm có thể rút được 1-2 kg mật (tương đương 15-30 con gấu).
Thành phần hoá học: Trong mật gấu, sơ bộ có các chất.
Muối kim loại của các acid cholic.
Cholesterol.
Sắc tố mật như billirubin.
Các acid cholic trong mật gấu có acid cholic, acid chenodesoxycholic, acid ursodexycholic. Riêng acid ursodesoxycholic được coi là thành phần đặc trưng của mật gấu (độ chảy 202oC, độ quay cực +57.07).
Công dụng: Theo đông y, Mật gấu vị đắng, tính lạnh. Vào 3 kinh tâm, can, vy.
Có tác dụng thanh huyết, sát khuẩn, làm tan sỏi mật.
Uống chữa các chứng bệnh thấp nhiệt, hoàng đản (vàng da), hồi hộp, sợ hãi, co dúm, lỵ lâu ngày, đau mắt đỏ kéo mạng, đau răng, trĩ dò, mụn nhọt, sỏi mật.
Ngoài ra còn dùng làm thuốc giúp tiêu hoá, giảm đau, trấn kinh, chữa trẻ em kinh phong, người khibị trấn thương.
Dùng ngoài ra: điểm vào mắt, dán ngoài chỗ bị trĩ dò.
Acid ursodesoxycholic chống co thắt, chữa 1 số bệnh gan, mật, làm tan sỏi mật, không gây ỉa chảy, không làm tăng transaminase.
Liều dùng: 0,5 – 2g (mật gấu).
Lưu ý: Không thuộc chứng thực nhiệt không dùng.
Xương gấu: cũng được dùng để nấu cao xương gấu,làm thuốc bồi dưỡng, chữa tê thấp, đau mỏi gân xương.
Phụ chú: Một số cách thử mật gấu:
Cảm quan: Nếm lúc đầu thấy đắng, sau thấy ngọt mát và dính lưỡi, ngậm lâu sẽ tan hết trong miệng. Mật những động vật khác không dính lưỡi, múi tình, nếm đắng mà không mát, nhìn không bóng, bẻ không ròn.
Lấy vài hạt, mảnh, mật gấu thả trên mặt nước sẽ thấy hạt mật gấu quay tròn rồi chìm xuống đáy. Có sợi màu vàng buông thẳng xuống đáy dưới cốc nước không toả ra - Phản ứng mầu, theo phương pháp hoá học: Các phản ứng Pettenkofer, phản ứng Lieberman – Surchard, chỉ có một tính chất định tính, không định lượng.
Nói chung những cách thử trên chỉ có tính chất tham khảo, mua trực tiếp là biện pháp bảo đảm nhất.
Bảo quản: Để nơi khô mát.

Theo: http://www.moh.gov.vn Bộ Y Tế

Uống quá nhiều rượu pha mật gấu, giám đốc một Sở ở Quảng Ninh đã tử vong vì suy gan, suy thận. Trong quãng đời làm bác sĩ của mình, BS Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch hội Đông y vẫn không thể nào quên một bệnh nhân, vốn là đồng nghiệp ở Bệnh viện Y học cổ truyền (Phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội). Con của bác sĩ này nuôi gấu và tặng cho bố 1 cc mật gấu để uống. ..

Uống quá nhiều rượu pha mật gấu, giám đốc một Sở ở Quảng Ninh đã tử vong vì suy gan, suy thận.
 Trong quãng đời làm bác sĩ của mình, BS Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch hội Đông y vẫn không thể nào quên một bệnh nhân, vốn là đồng nghiệp ở Bệnh viện Y học cổ truyền (Phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội). Con của bác sĩ này nuôi gấu và tặng cho bố 1 cc mật gấu để uống. Nhưng sau khi uống xong rượu pha với mật gấu, ông bác sĩ bỗng nhiên đen thui như Bao Công, đen đến tận móng tay, móng chân.
 Cả nhà rồng rắn đi khắp nơi chữa bệnh nhưng đều không khỏi. Sau khi được BS Nguyễn Xuân Hướng chữa bệnh, mặc dù da dẻ hồng hào trở lại nhưng bệnh nhân đặc biệt này đã phải “từ biệt” cả bộ móng tay móng chân.
 Bệnh nhân thứ hai, phải bỏ mạng vì uống mật gấu với hy vọng tăng cường năng lực đàn ông, chính là một giám đốc sở ở Quảng Ninh. Mặc dù đã được các bác sĩ cấp cứu nhưng bệnh nhân này đã tử vong vì bị suy gan, suy thận do uống quá nhiều rượu pha mật gấu.
 
Thêm một nạn nhân tử vong vì việc tin mật gấu giúp khoẻ mạnh hơn, đó là một phụ nữ vốn là cán bộ trong một cơ quan nhà nước. BS Hướng cho biết: “Tôi được cử đến khám cho chị thì thấy chị còn khoẻ mạnh và bảo chúng tôi cho mấy thang thuốc uống cho khoẻ. Nhưng tuần sau chúng tôi đến thấy chị bị phù, da trắng bệch, nằm mệt mỏi trên võng. Tôi bắt mạch xong và hỏi: Tại sao tuần trước vẫn khoẻ mạnh mà bây giờ chị lại ra nông nỗi này. Chị trả lời là không biết. Tôi bảo với y tá chăm sóc là khi nào thấy chị vô niệu thì hãy báo chúng tôi để đi cấp cứu ngay, nhưng lúc đó chị y tá bảo từ sáng tới giờ chị đã không thấy chị ấy đi tiểu được nữa. Ngay lập tức chúng tôi đưa chị đi cấp cứu tại viện 108. Bác sĩ hỏi mãi thì chị mới nói là chị uống một tí mật gấu bằng hạt gạo, nhưng mật gấu của chị là loại rất tốt. Thế là chúng tôi hiểu chị đã bị suy thận, suy gan vì mật gấu. Ngày hôm sau thì chị mất”.
 
Ngoài ra, cũng có những người bị ảnh hưởng chức năng sinh lý, đứng trước nguy cơ vô sinh vì suy giảm chất lượng tinh trùng sau khi dùng hàng loạt các bài thuốc bổ dương, trong đó có mật gấu. Các bác sĩ Đông y cho rằng, đó là hiện tượng “cực dương sinh ra cực âm”, dùng quá nhiều kiểu bài thuốc bổ dương gây ra liệt dương.
 
Mật gấu nóng và cực độc
 
Hầu hết các bác sĩ đều tỏ ra bức xúc khi thấy nhiều đàn ông vẫn thản nhiên uống những bài thuốc truyền miệng giúp khoẻ “chuyện ấy” từ mật gấu. Vì đây là một quan niệm hết sức sai lầm.
 
BS Hướng khẳng định: “Mật gấu rất nóng và độc. Gấu ăn hàng yến thịt sống mà vẫn tiêu hoá được trong khi con người không ăn được thịt sống, dù chỉ là một miếng cỏn con. Hay gấu uống được hàng lít mật ong, trong khi con người không thể làm được điều đó. Đó là nhờ mật con gấu tiêu hoá tốt. Còn con người, nếu uống mật gấu vào, sẽ bị phá tế bào gan và thận, gây suy gan suy thận dẫn tới tử vong”.
 
BS đông y Vũ Quốc Trung lý giải thêm: “Mật gấu làm tan huyết, làm cho các mạch máu lưu thông mạnh. Người ta thường dùng mật gấu để xoa bóp những vết thương sau khi ngã xe, tụ máu... Còn nếu uống vào, mật gấu sẽ làm cho máu lưu thông nhanh, khiến vỡ các mạch máu, gây ra chảy máu dạ dày, bục dạ dày và tử vong. Có người còn bị sung huyết khắp nơi vì vỡ các mạch máu, phù nề toàn thân. Và chắc chắn là đông y không hề có tài liệu nói mật gấu tốt cho “chuyện ấy””.
 
Là người được cấp bằng sáng chế độc quyền về phương pháp lấy mật không cần giết gấu, PGS Đỗ Khắc Hiếu, nguyên Trưởng bộ môn Công nghệ tế bào động vật, Viện Công nghệ sinh học đã từng khẳng định, chỉ có mật gấu ngựa chữa được xơ gan vì có chứa axit ursodeoxycholic (UDC). Nhưng trong thị trường hiện nay, chủ yếu là mật gấu chó, thứ mà gần như không có UDC mà chỉ có axit chenodeoxycholic (CDC).
 
Ngược lại với UDC, CDC không có tác dụng chữa xơ gan mà lại gây viêm gan vì vi khuẩn trong đường ruột sẽ ăn CDC và sản sinh ra axit lithocholic - tác nhân gây viêm gan. Điều này dẫn tới phần lớn người bệnh sẽ bị xơ gan nếu uống nhiều mật gấu chó.
 
Theo Hiền Lê
VTC
Ngoài công dụng chủ yếu chữa Chấn thương bầm tím, tụ huyết, ngay từ đời đường, người ta đã đề cập đến nhiều công dụng khác nhau của Mật gấu như:
Chữa một số bệnh về mắt: nhặm mắt, đau mắt đỏ, mắt kéo màng mộng, chấn thương, trẻ sơ sinh không mở được mắt (viêm kết mạc và theo đông y là do thai nhiệt). Bệnh về thần kinh: động kinh, mất ngủ. Bệnh tiêu hóa: ăn không tiêu, đầy bụng; giun chui ống mật; trĩ, vàng da, suy Dinh dưỡng do giun sán; đau răng, lở miệng. Trẻ em chảy mũi; lở tai, mũi; viêm họng.

Không được dung mật gấu khi không có thực nhiệt và uất hỏa. Tránh dùng cùng với vị phòng kỷ và địa hoàng. Kỵ thai.
Mật gấu vị đắng, nhưng khác với các loại mất khác là trước đắng sau ngọt, tính mát lạnh (khác tài liệu của bộ y tế ghi mật gấu tính ôn). Các sách cổ đều nghi không độc (khác tây y là có độc).

Công dụng của mật gấu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: tùy vào từng loại gấu (gấu ngựa, gấu chó), giống, tuổi của gấu, mùa lấy mật (xuân, hạ, thu, đông), vùng địa lý, chế độ dinh dưỡng; nuôi tự nhiên bán tự nhiên hay trong chuồng, thời kỳ lấy mật. thời điểm trước sau bữa ăn của gấu, lấy ngày hay đêm, cách chế biến và bảo quản. Muối mật tauro ursodeoxycholat (TUDC) là chất đặc trưng và là hoạt chất chính có tác dụng chữa bệnh đặc biệt của mật gấu. Người ta dựa vào yếu tố này để đánh giá chất lượng mật gấu và phân biệt thật giả. Mật gấu ngựa có hàm lượng TUDC cao nhất. Muối mật là chất độc đối với hệ thống thần kinh – cơ Tim mạch, thể hiện nhiều ở Đường tiêm hơn Đường ống.

Cách phân biệt mật gấu:

Lấy một ít mật gấu nghiền nát, cho vào cốc Nước mật thật sẽ quay tròn và lắng dần thành những sợi màu vàng thòng thẳng xuống đáy cốc mà không lan tỏa ra.
Rắc nhiều bụi nhẹ phủ kín trên mặt của bát nước đầy, sau đó nhỏ 1 giọt mật gấu vào trong bát nước. Nếu là thật, lớp bụi trên mặt nước dạt vào thành bát, để lộ khoảng trống vòng tròn nước trong mà tâm điểm là nơi giọt mật vừa nhỏ vào. Mật của các động vật khác không xóa được bụi trên mặt nước.
Nhỏ một giọt mật gấu vào ly nước đầy, sẽ thấy giọt mật tự xoay rất nhanh rồi chìm xuống đáy ly, vạch ra một Đường sáng như sợi chỉ và khá lâu mới tan đường chỉ này. Các loại mật động vật khác tuy cũng chìm xuống đáy ly nhưng tốc độ chậm và không có vệt sáng như mật gấu.
Láng qua nước lã cho ướt lên mặt một cái đĩa, rồi lấy 1 ít mật gấu đặt vào giữa đĩa, nước sẽ tách ra khỏi mật.
Nếm mật gấu thật lúc đầu thấy đắng sau chuyển sang vị ngọt mát, có cảm giác thấm sâu và dính vào lưỡi, mùi thơm nhẹ, ngậm lâu Sex tan hết, không tanh. Mật các động vật khác chỉ đắng mà không dính lưỡi.
Vì gấu thích ăn Mật ong nên người ta thử mật gấu bằng cách: lây một chậu nước, một đầu đường kính chậu đốt ngọn nến bằng sáp ong, đầu kia nhỏ một giọt mật gấu sẽ thấy mật gấu chuyển động trong nước về phía sáp ong. Các loại mật động vật khác không có hiện tượng này.
Nhỏ một giọt mật gấu vào khối mấu đông (như tiết canh) thì khối Máu này sẽ tan ra. Các loại mật động vật khác không như vậy.
Mật gấu thật khi quan sát dưới đèn tử ngoaijsex thấy ánh huỳnh quang màu vàng trắng. Mật gấu giả sẽ thấy màu vàng tươi, vàng xám,vàng nhợt hoặc vàng sẫm.
Trong ly nước ngọt có mật gấu thật, nếu nhỏ vài giọt axit sulfuric sẽ thấy ly nước có màu đỏ hồng tươi (thời gian sau sẽ chuyển sang màu xanh lam rồi xanh lục).

Công dụng của mật gấu theo tây y:

Theo tây y các loại mật đều có độc và có cách dùng bôi ngoài.
1. Bảo vệ gan, lợi mật, viêm xơ gan, tan Sỏi mật cholesterol.
2. Chống xơ cứng động mạch, chống mỡ bọc gan, hạ cholesterol trong máu.
3. Giảm nồng độ cao triglycerid trong máu.
4. Hạ đường huyết, chống mệt mỏi.
5. Giảm co thắt cơ trơn phủ tạng, giảm đau, tiêu viêm.
6. Tăng cường hấp thu Vitamin nhóm B (ngoài công dụng tăng cường hấp thu Vitamin tan trong dầu).
7. Hồi phục sức khỏe sau sinh, chữa rối loạn kinh nguyệt, khắc phục cảm giác khó chịu khi uống Thuốc tránh thai. Cấm chỉ định: phụ nữ Có thai (gây Sẩy thai bởi tác dụng Hành huyết, hoạt huyết), tắc mật hoàn toàn ( gây ứ mật, tràn mật), suy gan, tụy nặng.

(St)

Gần đây, ngành y tế chúng tôi có nhận được nhiều thư của các bạn, hỏi về nhiều vấn đề thuộc phạm vi bệnh Viêm gan siêu vi. Điều đó chứng tỏ rằng căn bệnh này vẫn đang được các bạn quan tâm sâu sắc.
Sự quan tâm đó rất đáng được thông cảm, vì quả thật viêm gan siêu vi là 1 hiểm họa to lớn đối với mọi người, nhất là đối với con em chúng ta. Tính ra, năm nào trong nước chúng ta cũng có hàng chục ngàn người mắc căn bệnh này. Ngay như năm ngoái - 1999 - một số thuốc chích ngừa viêm gan siêu vi đã bắt đầu được sử dụng, nhưng các bệnh viện trong nước ta đã phải tiếp nhậni 11.870 bệnh nhân viêm gan siêu vi. Con số đó dĩ nhiên còn thấp hơn số thực tế nhiều, vì không ít bệnh nhân đã điều trị tại nhà, không đến bệnh viện.

Đáp ứng yêu cầu của các bạn, tôi xin nói về "những điều cần biết về viên gan siêu vi"

Gọi là viêm gan siêu vi (VGSV) là khi gan của chúng ta bị những siêu vi từ ngoài tấn công vào, gây ra những tổn thương cho gan, nghĩa là gây bệnh cho gan. Bệnh VGSV có trên tất cả thế giới, nhưng có nhiều nhất ở các nước thuộc đông nam Châu Á, trong đó có nước ta. Đa số người bệnh là trẻ em, nhưng người lớn cũng có thể mắc, và cũng đã không ít người lớn chết về bệnh này, hoặc chết vì những hậu quả của bệnh này: như xơ gan, ung thư gan.

Nói một cách tổng quát, VGSV có thể sẩy ra trên con người dưới 3 thể bệnh chủ yếu: Viêm gan cấp, Viêm gan tối cấp và Viêm gan mạn.

Viêm gan cấp thường xảy ra khi siêu vi mới tấn công vào gan. Khi đó, người bệnh sẽ có một số triệu chứng đặc hiệu, chủ đề là :
1/ Sốt, 2/ Mệt mỏi, 3/ Vàng da
1.- Sốt: là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Sốt thường nhẹ, ít khi sốt cao. Do đó, có khi người bệnh chỉ thấy "hâm hâm nóng", như chỉ bị cảm nhẹ.
2.- Mệt mỏi: là triệu chứng rõ rệt hơn. Đa số người bệnh thường than là "hết sức mệt mỏi", và ngạc nhiên vì sao chỉ "cảm xoàng" mà mệt đến thế.
3.- Vàng da: sẽ xuất hiện sau vài ngày sốt, mệt như trên. Vàng da thấy ở tất cả mọi nơi trên cơ thể: chỗ nào da cũng vàng, mắt cũng vàng, nước tiểu cũng vàng. Thường khi vàng da xuất hiện, người bệnh sẽ hết sốt khi đã xuất hiện vàng da, thì bệnh viêm gan đã được xác định.
Ngoài 3 triệu chứng kể trên, 1 số người bệnh còn có thêm 1 số triệu chứng tiêu hóa: như chán ăn, no hơi (đầy bụng), nôn ói, đau bụng vùng trên rốn v.v...

Các triệu chứng kể trên thường tiến triển nhanh chóng, nói chung chỉ kéo dài khoảng 2-3 tuần, do đó được gọi là viêm gan cấp. Sau đó, nếu không có biến chứng gì, thì vàng da nhạt dần, nước tiểu trong lại, người bệnh khỏe lại dần và có thể hết bệnh.

Viêm gan tối cấp ngược lại, có thể làm chết người ngay. Trong viêm gan tối cấp, các triệu chứng xuất hiện đột ngột hơn, nặng hơn và thường xảy ra sau khi người bệnh bắt đầu có vàng da. Tuy nhiên cũng có trường hợp người bệnh bị viêm gan cấp đã trên 1 tuần, bệnh tưởng chừng như sắp khỏi, mới đột nhiên xuất hiện các triệu chứng của viêm gan tối cấp, trong đó, nổi bật nhất là 2 triệu chứng hết sức nặng: hôn mê và xuất huyết.
Hôn mê: tiến triển rất nhanh. Thoạt đầu, người bệnh chỉ lừ đừ, vật vã, có khi 2 tay co giật nhẹ, rồi rất nhanh sau đó, người bệnh đi vào hôn mê hoàn toàn, không biết gì nữa. Người bệnh thở gấp, mạch nhanh và rất yếu, và có thể có các cơn làm kinh (co giật). Ngành y khoa gọi chứng hôn mê này là "hôn mê gan".
Xuất huyết: cũng xuất hiện nhanh chóng. Có thể thấy các vết hoặc các đám đỏ bầm dưới da, do xuất huyết dưới da. Hoặc thấy người bệnh nôn ói ra máu, tiêu ra máu, tiểu ra máu v.v... Chích thuốc vào chổ nào cũng thấy chảy máu chỗ đó.

Viêm gan tối cấp là 1 thể viêm gan hết sức nặng, thường làm người bệnh chết nhanh chóng. Ngay ở các nước tiên tiến, với đầy đủ các phương tiện cấp cứu hiện đại, tỷ lệ tự vong trong thể bệnh này cũng chiếm tới trên 80%

Viêm gan mạn thường xảy ra sau khi người bệnh khỏi bệnh viêm gan cấp được 1 thời gian, có khi hàng tháng, có khi hàng năm sau đó. Trong viêm gan mạn, người bệnh không có các triệu chứng rõ rệt như trong viêm gan cấp hoặc viêm gan tối cấp, mà chỉ có các triệu chứng âm ỉ nhưng kéo dài.

Viêm gan mạn có thể xuất hiện dưới 2 thể bệnh: thế tiềm ẩn (thể dai dẳng), và thể hoạt động (thể tấn công).

Người bệnh bị viêm gan mạn thể tiềm ẩn thường chỉ có những triệu chứng không rõ rệt: mệt mõi, ăn uống chậm tiêu, táo bón... và thường không để ý đến. Chỉ khi có dịp đi thăm bệnh, thầy thuốc cho xét nghiệm mới phát hiện ra bệnh.

Còn trong viêm gan mạn thể hoạt động, thì các triệu chứng rõ rệt hơn: người bệnh suy nhược, rất yếu, chán ăn, luôn luôn bị dị ứng, nổi mề đay, ngứa, luôn luôn bị no hơi, đầy bụng... và thỉnh thoảng lại có 1 đợt sốt tự nhiên, không có nguyên nhân gì cả. Các triệu chứng này có thể kéo dài, và ngày càng trầm trọng hơn, làm người bệnh suy sụp trông thấy. Khi đi khám bệnh, xét nghiệm, mới phát hiện ra là viêm gan mạn thể hoạt động. Thể viêm gan nàythường do siêu vi viêm gan B hoặc siêu vi viêm gan C gây nên, và có thể tiến triển tới xơ gan, hoặc ung thư gan, làm người bệnh chết dần chết mòn, vô phương cứu chữa.

Đến đây, chắc các bạn đã thấy rõ VGSV là bệnh nguy hiểm như thế nào. Vậy thì, những siêu vi nào có thể gây ra căn bệnh tai hại này ?

Các bạn thân mến, tới nay, ngành y học đã xác định được 5 loại siêu vi có thể gây ra căn bệnh viêm gan nói trên, và đặt tên chúng theo thứ tự:
1. Siêu vi viêm gan A (SV A) gây ra bệnh VGSV A
2. Siêu vi viêm gan B (SV B) gây ra bệnh VGSV B
3. Siêu vi viêm gan C (SV C) gây ra bệnh VGSV C
4. Siêu vi viêm gan D (SV D) chỉ gây ra viêm gan khi được liên kết với SV B
5. Siêu vi viêm gan E (SV E) gây ra bệnh VGSV E.

Ngoài ra, cũng còn 1 số siêu vi khác có thể gây ra viêm gan, nhưng ngành y học chưa xác minh được. Do đó, những trường hợp VGSV đã được xác định là không phải do 5 loại siêu vi trên, thì được gọi chung là VGSV X.

Sau đây, là 1 số đặc điểm chủ yếu của từng loại VGSV:
1. Viêm gan siêu vi A (VGSV A): là 1 bệnh rất phổ biến, vì SV A có ở tất cả các nơi trên thế giới, và lây truyền dễ dàng theo đường ăn uống. Do đó VGSV A đã có những lần trở thành dịch bệnh. Các triệu chứng của VGSV A như sốt, mệt, vàng da thường không trầm trọng, nhưng nhiều khi kèm theo tiêu chảy. VGSV A thường không gây xơ gan, ung thư gan, nhưng cũng có khi trở thành 1 bệnh nặng, kéo dài, do đó cũng không thể coi thường.
2. VGSV B: là căn bệnh được coi là nguy hại bậc nhất vì ngoài khả năng gây ra viêm gan thể tối cấp, SV B còn luôn luôn có thể gây ra viêm gan thể tối cấp và viêm gan mạn, hoặc làm chết người ngay, hoặc làm chết dần chết mòn vì xơ gan, ung thư gan. Một điều tai hại, là những người trông ngoài bình thường, nhưng lại mang đi trong máu mầm bệnh SV B, chỉ khi xét nghiệm mới phát hiện ra. Những người này, ngoài nguy cơ cho bản thân là có thể 1 ngày nào đó bệnh sẽ phát ra, còn có nguy cơ nữa là có thể truyền mầm bệnh đó cho người khác. Sự lây truyền siêu vi B chủ yếu theo 3 đường: đường truyền máu (tiêm thuốc, truyền dịch, xâu lổ tai...), đường tình dục, và đường mẹ truyền sang con khi sanh đẻ.
3. VGSV C: có nhiều đặc điểm giống VGSV B. Ngoài khả năng gây ra viêm gan cấp, SV C cũng có thể gây ra viêm gan tối cấp và viêm gan mạn. Người nhiễm SV C cũng có thể mang trong máu mầm bệnh lâu dài và cũng có nguy cơ lây truyền sang người khác. Tuy nhiên, sự lây truyền của SV C mới được xác định là qua 2 đường: đường máu và đường tình dục (đường mẹ truyền sang con chưa được xác minh)
4. VGSV D:chưa được xác định, vì SV D là 1 siêu vi "chưa hoàn chỉnh" riêng bản tah6n nó chưa gây được viêm gan. Nó chỉ gây bệnh khi liên kết được với SV B. Nhưng 2 SV này đã liên kết với nhau để gây bệnh ở gan, thì sự nguy hại sẽ rất lớn: Tỷ lệ bệnh nhân viêm gan tối cấp sẽ cao hơn, tỷ lệ bệnh nhân viêm gan mạn cũng cao hơn, và do đó tỷ lệ tử vong cũng cao hơn, Đường lây truyền từ mẹ sang con chưa được xác minh.
5. VGSV E: có thể xảy ra dưới dạng viêm gan cấp và cả viêm gan tối cấp, do đó cũng có thể gây chết người. Sự lây truyền của SV E chủ yếu theo đường ăn uống, do đó cũng có thể gây thành dịch. Tuy nhiên, VGSV E không có khả năng trở thành mạn tính, không tiến triển tới xơ gan, ung thư gan.
Tóm lại, trong các bệnh VGSV, thì 2 loại VGSV B và VGSV C là nguy hại nhất, vì có khả năng gây ra bệnh viêm gan tối cấp và viêm gan mạn. Tuy nhiên, VGSV A cũng rất cần được quan tâm, vì cũng có thể trở thành 1 bệnh nặng, kéo dài. Còn đối với VGSV E, dĩ nhiên cũng không thể coi thường, vì cũng có thể trở thành viêm gan tối cấp, gây chết người ngay.

Các bạn thân mên, đến đây chắc các bạn đã thấy rõ tầm nguy hiểm của VGSV. Vậy chúng ta có thể làm gì để ngăn ngừa căn bệnh tai hại này ?

Qua phần trình bày trên, các bạn đã thấy: các siêu vi gây viêm gan đột nhập vào cơ thể con người qua 4 con đường chủ yếu:
1. Đường ăn uống (thức ăn, nước uống không hợp vệ sinh)
2. Đường máu (tiêm truyền, xâu lổ tai, chích lễ)
3. Đường tình dục (chủ yếu qua gái mại dâm)
4. Đường mẹ truyền sang con (khi sanh đẻ)

Như vậy, các bạn sẽ dễ dàng hình dung ra được các biện pháp phòng ngừa chủ yếu:
1. Giữ vệ sinh ăn uống
2. Đảm bảo an toàn chích thuốc, truyền dịch... Ngoài ra, rất thận trọng đảm bảo vô trùng hi phải làm những việc có gây chảy máu hoặc xây sát da: như xâu lổ tai, như chích lễ v.v...
3. Sống lành mạnh, trong sạch là việc cần giữ gìn luôn luôn, vì các SV B, SV C luônluôn có thể lây truyền qua đường tình dục.
4. Các bà mẹ đang có bầu, nếu có điều kiện, nên được xét nghiệm máu vào tháng thứ 7 của thai kỳ: nếu có mang mầm bệnh SV B, thì cần được thầy thuốc hướng dẫn phương pháp phòng ngừa để tránh truyền bệnh cho trẻ ngay từ khi mới sanh.

Một việc rất thực tế, rất nên thực hiện, là việc chích ngừa. Hiện nay, chúng ta đã có những thuốc chích ngừa rất tốt để ngừa viêm gan siêu vi A và viêm gan siêu vi B. Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được ưu tiên chích ngừa. Đó là điều mong được các bà mẹ lưu ý.

Xin cám ơn các bạn đã quan tâm theo dõi
 (LĐ) - Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo khoa học về ung thư gan, với sự tham gia của trên 250 bác sĩ thuộc hệ y tế dự phòng và bệnh viện trên toàn quốc - tổ chức tại TPHCM vào ngày 9.5.
BS Nguyễn Hữu Chí - Phó Chủ nhiệm bộ môn nhiễm Trường ĐH Y - Dược TPHCM - cho biết, viêm gan B diễn tiến thầm lặng và lây nhiễm cao hơn gấp 100 lần so với HIV, dễ dẫn đến viêm gan mạn tính, xơ gan, ung thư tế bào gan.

Võ Tuấn
Hút thuốc, uống rượu làm tăng nguy cơ ung thư gan
Ảnh: InternetCăn bệnh chủ yếu của gan là ung thư gan. Bệnh thường xuất hiện từ gan hoặc xuất phát từ bệnh ung thư ở nhiều bộ phận trên cơ thể rồi LAN tới gan.
Các loại ung thư gan
 
Chức năng chính của gan là lọc máu, giúp cho máu lưu thông khắp cơ thể, giúp chuyển hoá chất dinh dưỡng và hấp thụ thuốc từ cơ quan tiêu hoá bằng các hợp chất sinh học sẵn có. Gan có nhiều chức năng quan trọng, như loại bỏ độc tố và bài tiết các chất hoá học độc hại trong máu. Vì vậy nên tất cả lượng máu trong cơ thể đều  phải lọc qua gan,  tuy vậy gan không tới được các tế bào ung thư tồn tại trong máu.
  
Hầu hết ung thư gan là do tự phát hoặc do di căn, tức là bắt đầu từ một khối u ác tính ở cơ quan nào đó trong cơ thể thường là ở ruột, phổi, hay vú nhưng chủ yếu bắt nguồn chính ở trong gan.
 
Căn bệnh ung thư này chiếm khoảng 2% ở Mỹ nhưng ở các nước kém phát triển và đang phát triển, con số này chiếm 50% so với những căn bệnh ung thư khác. Nguyên nhân cơ bản là do hậu quả của bệnh viêm gan, bệnh do virut truyền nhiễm gây Ra.
 
Gan được hình thành bởi một số loại tế bào khác nhau, vì thế trong gan có thể xuất hiện những khối u:
 
- U lành (không có tế bào ung thư).
- U ác (có tế bào gây ung thư).
- Nó có thể là hệ quả của 1 loại ung thư khác đang trong quá trình di căn (LAN rộng khắp cơ thể).
 
Những khối u lành do nhiều nguyên nhân khác nhau gây Ra và được điều trị theo nhiều cách khác nhau. Sự phục hồi phụ thuộc vào khối u của bạn thuộc loại nào.
 
Những khối u lành tính gồm có:
- U mạch máu
- U tuyến lá gan
- Focal nodular hyperplasia
 
Các khối u lành được điều trị khác với ung thư gan và chỉ phẫu thuật khi nó gây đau đớn hay chảy máu.
 
Ung thư gan bao gồm: 
- Ung thư biểu bì gan
- U biểu bì đường mật (Đây là những căn bệnh ung thư xuất phát từ ống mật)
Nguyên nhân nào dẫn tới ung thư gan?
Chủ yếu ung thư gan (ung thư biểu bì gan) thường hình thành trong chính những lá gan do:
 
- Khuyết tật bẩm sinh.
- Do uống rượu, hay bị ảnh hưởng lâu dài bởi nhiều loại bệnh chẳng hạn như viêm gan B hay viêm gan C, hemochromatosis (trong gan có quá nhiều sắt).
- Bệnh xơ gan (uống rượu làm cho gan bị tổn thương, viêm gan B hay C,  hay hemochromatosis đều chắc chắn là nguyên nhân làm hỏng và gây bệnh cho gan).
 
- Những người mắc bệnh do di truyền gọi là hemochromatosis, hay bệnh thừa sắt, thì thậm chí nguy cơ ung thư còn hơn rất nhiều.
- Do phơi nhiễm thuốc diệt cỏ và các chất hoá học như nhựa viny clorua và thạch tín.
- Hút thuốc lại hay uống rượu thì càng làm tăng nguy cơ.
- Chất độc tạo thành trong bào tử nấm được sinh Ra từ một loại mốc của cây cũng gây ung thư. Những chất độc trong bào tử nấm sẽ làm hỏng lúa mỳ, lạc, gạo, ngô hay đậu tương.
 
Những nhân tố khác bao gồm:
- Giới tính: Đàn ông thường mắc bệnh ung thư gan nhiều hơn phụ nữ.
- Những vận động viên nữ phải sử dụng hormon để phát triển cơ trong thời gian dài có thể tăng nguy cơ ung thư gan.
- Các loại thuốc tránh Thai. Chúng có thể tăng nguy cơ ung thư gan. Hầu hết những loại thuốc tránh Thai có liên quan tới bệnh ung thư này đều không được sử dụng trong thời gian dài.
 
Đức Mạnh (Theo WebMD)
Khi có các dấu hiệu: chán ăn, đau tức vùng hạ sườn, ăn uống khó tiêu, ậm ạch, người sút cân, gầy… thì rất có thể bị ung thư gan. Do vậy, cần đến ngay bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán và phát hiện sớm bệnh.

Thạc sĩ, bác sĩ Nghiêm Quốc Hưng, Phó trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai đã cảnh báo như vậy.

 

Theo bác sĩ Hưng, đa số các ca ung thư gan ở Việt Nam hiện nay đều được phát hiện rất “tình cờ”, thụ động và thường đã ở giai đoạn muộn, do vậy, việc điều trị không mang lại hiệu quả cao và người bệnh nhanh bị suy kiệt dẫn đến tử vong.

 

“Rất nhiều người có dấu hiệu mệt mỏi, biếng ăn nhưng đã chủ quan không đi khám bệnh, vì vậy, các ca ung thư gan ở Việt Nam thường được phát hiện khi sức khoẻ bệnh nhân đã suy kiệt. Nhiều người bệnh được phát hiện do phải vào viện điều trị một bệnh nào đó và qua một số xét nghiệm, bác sĩ phát hiện bệnh nhân bị ung thư gan…”, bác sĩ Hưng cho biết.

 

U gan phát triển rất nhanh, bệnh nhân nhanh chóng bị suy sụp và nếu không được điều trị thì người bệnh thường chỉ sống được trên dưới 3 tháng.

 

Phát hiện sớm ung thư gan có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị nhằm kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân. Nhưng người bệnh lại thường bỏ qua những dấu hiệu ung thư gan, chỉ nghĩ đó là những rối loạn tiêu hoá bình thường, do vậy, chỉ đến khi sức khoẻ đã suy kiệt mới chịu đi khám thì ung thư gan đã ở giai đoạn muộn.

 

Ung thư gan có thể được phát hiện bằng các phương pháp: siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, thậm chí phải dùng đến cả cộng hưởng từ để xác định người bệnh có bị ung thư gan hay không.

 

Theo Dân Trí


Lối sống thiếu lành mạnh và không ngừng phì phèo thuốc lá đã khiến tỉ lệ tử vong do ung thư ở nam giới cao hơn nữ giới tới 70%, các bác sĩ Anh cảnh báo.

Việc “đặng chẳng đừng” mới đi khám bệnh của cánh mày râu cũng là nguyên nhân chính làm tăng nguy cơ cơ tử vong ở nam giới sau khi thực hiện những phân tích về tình trạng ung thư hiện nay.
Về tổng thể, tỉ lệ nam giới mắc ung thư cao hơn nữ giới 16% và tỉ lệ tử vong cũng cao hơn 40%.
Nhưng khi ngực, tuyến tiền liệt và một số bộ phận khác bị bệnh thì nó sẽ tác động lên giới tính này nhiều hơn giới tính khác, khi đó khoảng cách càng lớn hơn.
Theo đó tỉ lệ nam giới chẩn đoán mắc ung thư cao hơn nữ giới là 62% và tử vong do ung thư cao hơn 69%, theo báo cáo đăng tải trên tạp chí European Urology Supplements.
Đối với 1 số loại ung thư, số liệu cảnh báo còn cao hơn nữa. Ví như nam giới Anh có nguy cơ bị tử vong do ung thư bàng quang cao gấp 3 lần và gấp đôi ở ung thư thận so với phụ nữ, mặc dù chưa thể giải thích lý do sinh học của tình trạng này.
Nhà nghiên cứu, GS David Forman, ĐH Leeds, cho biết nam giới nổi tiếng là lười đi khám bác sĩ. Vì thế họ có xu hướng thiếu không hiểu rõ về sức khỏe của mình. Trong khi đó, họ cũng không có các kỳ kiểm tra sức khỏe như phụ nữ (do đang uống thuốc tránh thai hay mang thai).
Nhà nghiên cứu ung thư Catherine Thomson cho biết: “Chúng tôi có cảm giác rằng không có yếu tố sinh học ở đây, mà vấn đề là do lối sống của nam giới. Họ lười đi khám bác sĩ dù các biểu hiện bệnh tật khá rõ rệt”.
Có thể lấy là hút thuốc ở nam giới rất phổ biến, những “con sâu” rượu cũng chủ yếu là nam giới. Nam giới cũng ăn nhiều thịt đỏ, ít hoa quả hơn phụ nữ. Nam giới có xu hướng tích lũy mỡ ở vùng quanh dạ dày hơn là eo và bắp đùi, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tật.

Theo DailyMail

Rượu là một độc chất đối với cơ thể mà gan giữ nhiệm vụ khử bỏ độc chất đó. Nếu uống ít và không liên tục, gan có đủ khả năng và thời gian để hoá giải chất độc này, còn như uống quá nhiều, liên tục trong nhiều năm, gan phải làm việc quá sức sẽ bị kiệt quệ và chất aldehyd (độc chất được tạo ra từ rượu) sẽ trực tiếp phá huỷ tế bào gan.

Tửu lượng bao nhiêu là vừa?

Tác hại của rượu đối với gan không liên quan đến loại rượu mà tuỳ thuộc nồng độ cồn có trong loại rượu đó. Người ta ước tính trung bình một lon bia (330ml) tương đương với một ly rượu vang (120ml) hoặc 45ml rượu whisky hay rượu mạnh vì cùng chứa một lượng cồn là 10g.

Một người được gọi “bợm nhậu” khi mỗi ngày uống trên 30g cồn (hơn ba lon bia hoặc nửa chai rượu vang hoặc hơn nửa xị đế) và kiên trì trên… năm năm!

Rượu tiếp sức để mau… xơ gan

Rượu và bia là nguyên nhân gây viêm gan thường gặp. Ở nước ta bệnh gan do rượu đứng hàng thứ hai sau bệnh viêm gan siêu vi. Rượu thường làm rối loạn chuyển hoá mỡ, tăng tích tụ triglyceride ở gan, làm cho gan nhiễm mỡ. Bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì đặc biệt ngoài xét nghiệm có tình trạng tăng men gan (men AST, ALT và GGT). Nếu kiêng rượu trong giai đoạn này, gan có thể hồi phục hoàn toàn mà không cần dùng bất kỳ một loại thuốc nào. Còn như vẫn tiếp tục uống, gan sẽ bị ngộ độc và hư hoại kéo dài, dần dần dẫn đến xơ gan.

Nếu chúng ta cứ tiếp tục uống, gan mất dần các khả năng hoạt động sẽ gây ra các biến chứng như cổ trướng (tích tụ nước trong bụng), ói ra máu, hôn mê, suy thận và chuyển thành ung thư gan. Nhiều bệnh nhân khi đã bị xơ gan nặng hoặc ung thư gan do rượu, đến lúc đó mới cảm thấy ân hận thì đã quá muộn.

Có thuốc bổ gan, giải rượu hữu hiệu?

Nhiều người hay than phiền “bây giờ làm ăn mà không biết nhậu chỉ có cách giải nghệ”, và rủ nhau đi săn lùng những kinh nghiệm dân gian, những loại thuốc có tác dụng bổ gan và giải độc rượu để có thể thoải mái uống mà gan vẫn “chạy” tốt.

Người khác thì khuyên nên uống thêm vitamin B1, B6, acid folic… để giải độc rượu. Thật ra đây là cách để bù lại lượng vitamin thiếu hụt do gan tăng mục đích sử dụng nhằm chuyển hoá rượu. Nếu không bổ sung các vitamin này sẽ dẫn đến các biến chứng thiếu máu và tổn thương dây thần kinh gây teo cơ, tê nhức tứ chi…

Gần đây lại có quảng cáo mật gấu hay các tổng hợp từ mật gấu có khả năng bổ trợ gan, được áp hiệu quả dụng trên lâm sàng có khả năng làm giảm men gan hiệu quả, được các thấy thuốc dùng đầu tay như URSA-S, Nissel, Hepamertz .v.v.

Nhưng nói chung, lời khuyên thiết thân nhất cho các đệ tử lưu linh là hạn chế dùng bia rượu nhiều. Muốn chữa lửa thì tốt nhất đừng “châm dầu vào lửa”. Đó cũng chính là con đường sống dành cho lá gan của bạn!

Chồng em là một doanh nhân, anh ấy thường đi nhậu với đối tác. Dần dần bụng anh to ra. Thời gian gần đây cái khoản “giường chiếu” của anh kém hẳn. Em thật sự lo lắng vì mới 45 tuổi, còn ông xã 50 mà đã chớm “về hưu”… (Ngọc Danh, Q.7)

 

Trả lời:

Chẳng riêng chồng bạn mà hiện nay có khối ông ở các ngành nghề khác nhau coi “nhậu là một phần tất yếu của cuộc sống”, từ bia cao cấp đến bia… hết hơi hay rượu đế có aldehyte gây ngộ độc thần kinh. Bia, rượu, mồi đều được tiêu hóa và gan “biến hóa” chúng thành năng lượng, dự trữ dưới dạng mỡ. Mô bụng là “miền đất” thích hợp cho mỡ đến… đăng ký hộ khẩu thường trú. Sau mỗi cuộc nhậu thì số nhân khẩu của mỡ tăng theo kiểu xếp lớp đến chật cứng, đẩy vòng eo của quý ông lớn dần, dây nịt cứ theo chiều hướng ấy mà đục thêm lỗ, nới ra cho đủ rộng.

Tại sao nhậu lại làm yếu chuyện gối chăn? Trong tập san Béo phì quốc tế, bác sĩ Manolopoulos (Anh) nói rằng đàn ông có bụng hình “trái táo” là tăng lượng triglyceride vào vùng bụng và sản sinh ra cytokines. Đây là kẻ chuyên quấy phá insuline là hormone làm giảm đường huyết. Vì thế ông nào ôm “trái táo” là dễ bị tiểu đường type 2. Rồi đám mỡ trong bụng, đặc biệt là thứ bám lằng nhằng trong nội tạng sẽ gây rối loạn chuyển hóa, làm sản sinh angiotensine II gây co mạch, tăng huyết áp. Mỡ bám vào “bộ đồ lòng” dễ gây ra huyết khối nên bụng “trái táo” dễ bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Nếu vòng eo lớn hơn 90cm thì những người thường nhậu nhẹt sẽ rơi vào “hội chứng chuyển hóa”. Rối loạn chuyển hóa mỡ sẽ làm giảm tổng hợp testosterone, thế là chẳng “ham muốn” nữa. Rối loạn chuyển hóa còn làm cho mỡ bám vào mạch máu nuôi “kho vũ khí”, dẫn đến “ùn tắc” và “súng ống” bị suy dinh dưỡng. Vì thế, bạn nên động viên ông xã giảm nhậu, tăng tập luyện.

Mọi chuyện đều “dục tốc bất đạt”, giảm nhậu phải từng bước để khách hàng thông cảm, tập luyện cũng cần từ từ để tạo ra một thói quen mới. Vì thế các bà vợ có chồng “lỡ béo” nên khéo léo trong việc nấu các món ăn vừa miệng mà không chứa nhiều mỡ. Dù phải “nhịn thèm” nhưng vẫn động viên khuyến khích để chàng tăng chí khí nam nhi mà cố gắng tập luyện thể dục. Sau chừng sáu tháng điều độ như vậy tình hình sẽ cải thiện. Hy vọng chồng bạn sẽ ngộ ra.

Theo BS Lê Thúy Tươi

Trong tình yêu nếu bạn không hiểu người ấy thì có lẽ bạn chẳng thể nào thương  yêu và chăm sóc cho người ấy  được. Lá gan - một bộ phận rất quan trọng trong cơ thể con người cũng vậy, cũng cần được sự quan tâm chăm sóc. Tuy nhiên có lẽ trong đa số chúng ta vẫn ít người biết được sự qua trọng của lá gan. bài diễn thuyết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về lá gan và chắc rằng sau khi hiểu rõ về nó bạn sẽ biết cách chăm sóc cho lá gan của mình tốt hơn.

Bài viết được trình bày dưới dạng Power point do Ganmat.com tổng hợp và đưa lên để đọc giả tham khảo. Bạn click vào đây để tải về máy

 

Đức Mạnh - Ganmat.com

Trong khoảng 5 năm trở lại đây, chúng ta có thêm nhiều thuốc chữa viêm gan siêu vi B mạn. Bên cạnh đó cũng xuất hiện sự kháng thuốc, xuất hiện nhiều chủng kháng thuốc đột biến gen... nên phương pháp điều trị, dùng thuốc, chăm sóc có một số thay đổi...
Thực tế, người bị nhiễm virut viêm gan B (HBV) thường lo lắng về tình trạng bệnh và băn khoăn không biết nên dùng thuốc hay không. Nếu dùng thì dùng như thế nào?
Có phải cứ nhiễm HBV là dùng thuốc?
HBV phân làm 4 trường hợp:
- Trường hợp 1: Có kháng nguyên bề mặt HBsAg (+) chứng tỏ có virut;  có kháng nguyên nội sinh HBeAg (+) chứng tỏ virut đang sinh sôi, có dấu hiệu lâm sàng viêm gan B rõ (vàng mắt, vàng da, mệt mỏi chán ăn; enzym gan  ALT-alanin aminotranferase tăng. Bình thường ALT= 40U/L, khi bị bệnh ALT tăng gấp 2 lần trở lên). Đây là trường hợp  cần phải  dùng thuốc.
- Trường hợp 2: HBsAg (+) chứng tỏ có virut; HBeAg(-) chứng tỏ không có dấu hiệu virut sinh sôi; không có dấu hiệu lâm sàng rõ. Đây là trường hợp người lành mang mầm bệnh, không dùng thuốc.
- Trường hợp 3: HBsAg (+) chứng tỏ có virut; HBeAg(+) chứng tỏ virut đang sinh sôi, nhưng không có dấu hiệu lâm sàng. Đây là trường hợp người "dung nạp được miễn dịch" cũng chưa cần dùng thuốc. Nhưng trường hợp này có nguy cơ cao, virut có thể tái kích hoạt gây bệnh nên cần theo dõi, nếu thấy xuất hiện các biểu hiện lâm sàng thì khám ngay để kịp thời dùng thuốc.
- Trường hợp 4: HBsAg (+) chứng tỏ có virut; HBeAg (-) chứng tỏ không có dấu hiệu virut sinh sôi nhưng lại có dấu hiệu lâm sàng. Đây là trường hợp người bệnh đã từng bị viêm gan B mạn, virut từng kích hoạt âm thầm, sau đó ngừng kích hoạt gọi là người viêm gan B không hoạt tính; chưa cần dùng thuốc (vì virut chưa tái sinh sôi, chưa thực sự tái kích hoạt, dùng sẽ không có lợi). Tuy nhiên phải theo dõi chặt chẽ: khám lâm sàng, xét nghiệm định kỳ, khi cần thiết phải can thiệp ngay.
 
 
virus vgb.jpg
 
Thuốc điều trị viêm gan B mạn
+ Interferon: Có hiệu năng tăng cường khả năng miễn dịch, ngoài ra còn kháng virut. Thuốc bị thủy phân ở đường tiêu hóa nên chỉ dùng đường tiêm.  Khi dùng, một số người bệnh có thể gặp các triệu chứng như sốt, rụng tóc, mệt... Tuy nhiên, giá thành của thuốc còn cao, lại phải dùng lâu dài nên nhiều trường hợp không có điều kiện. Vì thế, thuốc tuy rất tốt nhưng ít người bệnh lựa chọn.
+ Lamivudin: Có hiệu năng kháng virut. Khi dùng đủ liệu trình thì dấu hiệu lâm sàng mất đi, ALT trở về bình thường, lượng virut (HBVDNA) giảm, hình ảnh mô học gan cải thiện. Thời gian đạt được mục tiêu này lệ thuộc vào từng người, ít nhất là 1 năm, trung bình 2 năm, có khi kéo dài tới 3 năm, nếu tái phát còn có thể dùng lại. Trước năm 2000, lamivudin được xem là thuốc đầu tay (rẻ tiền, dùng đường uống, tiện lợi). Nhưng hiện nay tỷ lệ kháng lamivudin lên  tới 70% (lamivudin bị kháng thuốc theo kiểu gen) nên hiện không được ưa dùng nhiều. Tuy nhiên, cũng có khoảng 20% người bệnh hầu như không bị kháng thuốc. Cần lưu ý điều này để có thể dùng lamivudin cho người có khả năng đáp ứng, nhất là với người kinh tế khó khăn (lamivudin vẫn là thuốc có giá rẻ).
+ Adefovir, entecavi, telbivudin:  Thời gian đạt được mục tiêu điều trị ngắn hơn lamivudin. Tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn lamivudin và có hiệu quả với những người bệnh đã kháng với lamivudin.
+ Tenofovir: Là thuốc mới nhất được EU (Mỹ) mới cho dùng năm 2008. Qua các nghiên cứu cho thấy tenofovir tốt hơn các thuốc trước đó cả về mức đạt được hiệu quả và  chưa bị kháng thuốc.
+ Dùng phối hợp thuốc: Mấy năm gần đây, có một số nghiên cứu phối hợp thuốc trong điều trị viêm gan siêu vi B. Phối hợp chất tăng cường miễn dịch (interferon- pegylat) với chất kháng virut (lamivudin) cho kết quả tốt hơn dùng mỗi thứ riêng lẻ, nhưng phối hợp hai chất kháng virut thì cho kết quả không đều. Chẳng hạn dùng lamivudin+ adefovir với người đã bị kháng lamivudin thì tính trên người dùng có 80% có đáp ứng, 80% giảm HBVDNA đến mức không phát hiện được, 84% ALT trở lại bình thường. Sau khi ngừng dùng 3 năm không nhận thấy có sự bùng nổ đảo ngược về virut hay lâm sàng  học, không hình thành sự đề kháng kiểu gen, không mất bù trừ ở người xơ gan. Nhưng có trường hợp không cho kết quả tốt hơn. Chẳng hạn: dùng lamivudin+ telbivudin thì tốt hơn dùng riêng lamivudin nhưng lại không tốt hơn dùng riêng telbivudin. Vì sự phối hợp chưa ổn định, hơn nữa làm tăng chi phí điều trị nên các nghiên cứu này chưa áp dụng lâm sàng.
Khi nào ngừng dùng thuốc?
Tải lượng HBV càng cao (số lượng bản sao HBVDNA/1ml máu lớn) thì nguy cơ xơ gan, ung thư gan càng lớn. Tải lượng HBV là yếu tố tiên đoán độc lập cho sự phát triển xơ gan, ung thư gan. Nồng độ ALT càng cao thì nguy cơ xơ gan, ung thư gan cũng càng lớn. Vì thế, khi điều trị viêm gan siêu vi B mạn, cần đưa HVNDNA về dưới ngưỡng và đưa ALT về mức bình thường mới ngừng thuốc. Sau khi ngưng thuốc, cần theo dõi định kỳ, kể cả người bệnh mà khi ngừng điều trị HBVDNA ở ngưỡng thấp.
Chỉ dùng thuốc khi hội đủ các tiêu chí (trường hợp 1) và ngừng điều trị  khi đạt mục đích điều trị. Ở các bệnh viện tuyến trên, thường xét nghiệm HBVDNA. Đây là chỉ số cho biết tình trạng sinh sản (nhân đôi tế bào) của virut. HBVDNA (+) chứng tỏ virut đang sinh sôi (khi điều trị HBVDNA thường giảm, lý tưởng là đạt đến mức không còn HBVDNA, nhưng trong thực tế chỉ có thể đạt được mức tối đa, tức là vẫn có thể còn HBVDNA nhưng không còn phát hiện được bằng các phương pháp thông thường). Có lúc HBVDNA chỉ giảm đến một mức nhất định. Ví dụ lúc đầu, HBVDNA = 200.000 bản sao/1ml máu, sau điều trị chỉ còn 300 bản sao/1ml máu thì coi như bệnh đã ổn định, có thể ngừng thuốc.
Hiện có xuất hiện sự kháng thuốc, đặc biệt xuất hiện các chủng kháng thuốc đột biến gen.  Khi đã  điều trị đủ liệu trình, đạt kết quả, cho ngừng thuốc thì vẫn theo dõi định kỳ để xử lý việc bùng phát virut. Khi bị kháng thuốc, cần chấp nhận một liệu trình khác, không bi quan bỏ mặc vì có thể bột phát nguy hiểm. Không tự ý dùng thuốc cũng như tự ý bỏ dở điều trị, tự ý kéo dài thời gian điều trị. Trong quá trình điều trị, cần khám và xét nghiệm định kỳ. Trong trường hợp  không hoặc chưa dùng thuốc (trường hợp 2- 3- 4) thì cần hiểu rõ lời dặn thầy thuốc, tự theo dõi chặt chẽ, khi cần phải khám, xét nghiệm ngay (trường hợp 3- 4).
Hiện có nhiều loại thuốc được đánh giá là có hiệu năng, nhưng khác nhau về mức đạt được hiệu quả, sự kháng thuốc, thời gian điều trị, giá cả. Khi thảo luận, người bệnh cần  nghe đủ các thông tin, trình bày nguyện vọng để thầy thuốc căn cứ vào đó và tình trạng bệnh mà chọn liệu trình thích hợp.
DS. Hà Thủy Phước - www.suckhoedoisong.vn
Bệnh viêm gan A do virut, gọi tắt là viêm gan A (VGA) là bệnh có tỷ lệ mắc cao ở những nước có điều kiện kinh tế còn kém phát triển. Con đường lây lan của bệnh qua đường ăn uống từ người bệnh sang người lành càng làm cho nguy cơ mắc bệnh tăng lên nếu không được kiểm soát một cách đúng đắn.

Bệnh lây truyền trực tiếp từ người sang người

 Virut viêm gan A.
VGA được xác định là bệnh lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua thức ăn và nước uống bị nhiễm virut viêm gan A (HAV). HAV đào thải qua phân ở cuối thời kỳ ủ bệnh kéo dài hàng tuần (cho tới khi lui bệnh). Bởi vậy, ăn uống mất vệ sinh là điều kiện thuận lợi cho mắc bệnh. Nhân viên y tế, khách du lịch, cô bảo mẫu... là những đối tượng có nguy cơ cao, dễ mắc phải căn bệnh này. Nhiễm khuẩn thức ăn, nguồn nước là nguy cơ gây ra những vụ dịch lớn nhỏ hiện nay. VGA có thể lây truyền qua truyền máu, tuy nhiên khả năng lây theo phương thức này là rất hy hữu.

Bệnh VGA được biết đến từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, Hyppocrate đã mô tả lâm sàng bệnh này với tên gọi là "bệnh vàng da truyền nhiễm". Đến năm 1947, bệnh được đặt tên là VGA để phân biệt với bệnh viêm gan B - một bệnh viêm gan virut lây bằng đường máu.

VGA là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lưu hành khắp trên thế giới, tuy nhiên tính phổ biến khác nhau ở từng vùng. Ở các nước nghèo, các nước đang phát triển với điều kiện vệ sinh kém, bệnh VGA rất phổ biến. Ở Đông Nam Á, VGA thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên. Một nghiên cứu tiến hành ở Indonesia cho biết, có những vùng tỷ lệ nhiễm HAV ở trẻ em dưới 4 tuổi lên đến 90-100%. Việt Nam cũng là nước có mức độ lưu hành rộng rãi căn bệnh này. Một nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết tại huyện Tân Châu (An Giang) tỷ lệ nhiễm HAV ở trẻ em là 97%. Tại các bệnh viện, HAV là nguyên nhân của khoảng 30-50% số trường hợp viêm gan cấp. Ngược lại, tại các nước phát triển, như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản... nhờ điều kiện sống đầy đủ và vệ sinh cộng với chương trình tiêm chủng vaccin viêm gan A sớm được triển khai nên tỷ lệ nhiễm HAV liên tục giảm.

Có thể tử vong vì viêm gan A

Người ta chia bệnh làm các dạng khác nhau đó là:

Viêm gan cấp tính: Sau một thời gian ủ bệnh, trung bình là 30 ngày, bệnh nhân khởi phát đột ngột các dấu hiệu bệnh giống như cảm cúm: sốt, ho, đau mỏi cơ, nhức đầu, mệt mỏi, chán ăn, đi tiểu ít, nước tiểu sẫm màu. Chính vì dấu hiệu này mà nhiều người chủ quan, cho rằng chỉ bị cảm cúm thông thường, nếu không được phát hiện sớm bệnh sẽ nặng lên, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Sau 5-7 ngày với những triệu chứng trên, bệnh nhân hết sốt nhưng vẫn tiếp tục mệt mỏi và chán ăn. Dấu hiệu vàng mắt, vàng da xuất hiện tăng dần và thường kéo dài từ 2-4 tuần. Bệnh VGA cấp tính thường tự khỏi, người bệnh đi tiểu nhiều và hết vàng da, vàng mắt nhưng có khoảng 2% số trường hợp diễn biến nặng, có thể dẫn đến suy gan, hôn mê gan, làm cho người bệnh tử vong.

Viêm gan tối cấp: Bệnh diễn biến nhanh chóng trong một tuần với sốt cao, vàng mắt, mệt lả, gan teo nhỏ và hôn mê gan thường là biểu hiện cuối cùng trước khi tử vong.

Viêm gan kéo dài: Hiện tượng này rất ít gặp nhưng hiện tượng ứ mật kéo dài, đôi khi xảy ra có thể là từ 2-3 tháng, nhưng ít khi để lại hậu quả nặng nề. Không ghi nhận thể viêm gan mạn tính hoặc tình trạng mang HAV suốt đời.

Vaccin là biện pháp phòng bệnh tốt nhất

Hầu hết các trường hợp VGA cấp tính thường diễn biến nhẹ. Phương pháp điều trị chủ yếu là nằm nghỉ ngơi trong thời gian mắc bệnh. Đồng thời các bác sĩ sẽ điều chỉnh những rối loạn chức năng: truyền dịch, lợi mật, lợi tiểu... Tuy nhiên không vì thế mà người bệnh tự điều trị tại nhà mà cần đến bệnh viện để khám, xét nghiệm (men gan, các chức năng gan và Anti- HAV lớp IgM...) để xác định bệnh và tiên lượng chính xác xem người bệnh mắc VGA ở thể nào, cấp tính, tối cấp hay viêm gan kéo dài, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Đa số các bệnh nhân cần được nằm điều trị nội trú tại bệnh viện. Khi mắc bệnh, người bệnh cần được chăm sóc tốt, ăn những thức ăn dễ tiêu hóa, không nên ăn những thứ nhiều mỡ, đường... tránh cho gan phải làm việc mệt nhọc.

Trước đây khi chưa có vaccin phòng bệnh đặc hiệu, người ta sử dụng liệu pháp tiêm dự phòng bằng globulin miễn dịch - Ig, song hiệu quả thấp và thời gian miễn dịch ngắn (khoảng 1 tuần). Cách ly người bệnh, ăn uống vệ sinh cũng là biện pháp phòng bệnh nhưng không thật sự đặc hiệu, không ngừa được đại dịch xảy ra. Hiện nay, vaccin viêm gan A (vaccin sống bất hoạt, giảm độc lực) đã được sử dụng trên toàn thế giới và Việt Nam, có tính miễn dịch và độ an toàn cao. Với lịch tiêm chủng là 0; 1; 6 tháng, chúng ta có thể yên tâm không bị mắc bệnh viêm gan A, một căn bệnh gây dịch, ảnh hưởng tới sức khỏe cá nhân và xã hội. Vaccin viêm gan A đã và đang được triển khai tới tận cơ sở.

 

Đức Mạnh - theo Sức khỏe đời sống

Bệnh viêm gan virut C cấp có thể biểu hiện từ không triệu chứng đến viêm gan vàng da điển hình. Vì bệnh không có triệu chứng nên nhiều người không biết mình bị bệnh và bệnh cứ âm thầm tiến triển đến xơ gan, ung thư gan.
 Tiến triển của xơ gan do nhiễm HCV.

Lây nhiễm virut viêm gan C

Virut viêm gan C (HCV) lưu hành trong máu, do đó bệnh viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu. HCV RNA đã được phát hiện ở nước bọt, máu kinh, tinh dịch, nước tiểu, dịch não tủy và dịch báng trong xơ gan cổ trướng. HCV ở trong huyết thanh khô vẫn có khả năng gây nhiễm tại nhiệt độ phòng  trên 16 giờ. Có nhiều đường lây bệnh: lây nhiễm do truyền từ máu hay  trong lúc sinh từ mẹ sang con, lây qua các dụng cụ như: bơm kim tiêm, dụng cụ nội soi, kim châm cứu, kim xăm mình, dao cạo râu, dụng cụ cắt sửa móng tay, tiêm chích ma tuý...  

Những nghiên cứu về lây nhiễm viêm gan virut C do quan hệ giới tính có tỷ lệ rất thấp ở vợ chồng hay người bạn tình ổn định. Tuy nguy cơ lây nhiễm qua quan hệ tình dục của HCV là nhỏ, nhưng việc đồng nhiễm với HIV có thể gia tăng lây nhiễm HCV, đặc biệt giữa những người đồng tính luyến ái nam. Trẻ sơ sinh nhiễm HCV từ 2,7 - 8,4% số trẻ được sinh ra do các bà mẹ bị nhiễm HCV, tỷ lệ này cao hơn ở con các bà mẹ đồng nhiễm HIV và HCV.

         Một vài nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc viêm gan virut C cấp có triệu chứng ở Hoa Kỳ là 0,2 trường hợp trên 100.000 dân vào năm 2005; ở Italia năm 2001 là 1 trường hợp trên 100.000 dân; ở Hàn Quốc  viêm gan virut C cấp có triệu chứng chỉ là 2% tổng số các trường hợp viêm gan virut cấp (virut A đến virut E ); tỷ lệ kháng thể HCV dương tính của bệnh nhân viêm gan virut cấp ở các nước châu Á: 3,9 - 9,7% ở Trung Quốc, 4,9 - 11% ở Ấn Độ, 5,4% ở Malaysia và 10% ở Việt Nam.

Diễn tiến của bệnh viêm gan virut C

Nhiễm khuẩn cấp tính: hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, số ít có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, có thể vàng da, vàng mắt, nước tiểu đậm màu. Chẩn đoán bệnh dựa vào xét nghiệm máu.

Nhiễm khuẩn mạn tính: khoảng 85% trường hợp nhiễm HCV sẽ chuyển thành viêm gan mạn tính. Đặc điểm của bệnh viêm gan C mạn tính là tiến triển thầm lặng từ 10-30 năm, cho nên bệnh nhân không biết mình mắc bệnh và không được chẩn đoán điều trị kịp thời. Nhiều trường hợp bệnh nhân chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng nặng như: xơ gan cổ trướng với biểu hiện báng bụng, giãn mạch máu đường tiêu hóa, có thể vỡ gây chảy máu ồ ạt và tử vong; gan đã bị xơ khó hồi phục lại, dù tình trạng viêm có thuyên giảm; biến chứng ung thư tế bào gan.

Về dấu hiệu cận lâm sàng: viêm gan virut C có triệu chứng điển hình là gia tăng đột ngột men alamine aminotransferases (ALT) huyết thanh từ tuần 10 - 14 sau khi bị nhiễm. Việc hồi phục hoàn toàn khỏi nhiễm HCV ước tính chỉ dưới 20%. Những bệnh nhân viêm gan virut C có triệu chứng sạch virut tự nhiên cao hơn những bệnh nhân không triệu chứng. Những bệnh nhân nhiễm cấp nặng, đặc biệt là biểu hiện vàng da, hoặc bệnh nhân có biểu hiện gia tăng hơn của hoạt tính men aminotransferase có ảnh hưởng đến sự sạch virut tự nhiên bởi có những đáp ứng miễn dịch mạnh mẽ hơn.

Chẩn đoán 

Virut viêm gan C mới được phát hiện từ năm 1989, nên xét nghiệm chẩn đoán bệnh cũng mới có trong những năm gần đây. Xét nghiệm máu thấy men gan tăng chứng tỏ tế bào gan đang bị hủy hoại. Người ta cũng tìm thấy kháng thể chống HCV dương tính trong hầu hết các trường hợp. Chức năng gan có thể rối loạn tùy mức độ và thời gian bị bệnh. Xét nghiệm HCV RNA phát hiện virut trong máu. Men ALT tăng hơn 5 lần so với bình thường và huyết thanh dương tính với HCV RNA  cùng với tiền sử rõ ràng có thể chẩn đoán được viêm gan C cấp. Xét nghiệm kháng thể HCV có thể dương tính hay âm tính trong suốt giai đoạn cấp tính nhưng hầu hết các trường hợp cho thấy việc đảo ngược huyết thanh từ âm sang dương của kháng thể HCV ở giai đoạn sau. Thời gian của việc xuất hiện kháng thể HCV hay việc đảo ngược huyết thanh thay đổi từ 8 - 20 tuần. Số ít bệnh nhân vẫn âm tính kháng thể HCV trong suốt giai đoạn cấp tính. Có 7- 40% bệnh nhân không phát hiện được kháng thể sau khi đã sạch HCV một cách tự nhiên. Do đó không có bằng chứng về huyết thanh của việc nhiễm HCV sau khi đã hồi phục.

 Virut viêm gan C.
Điều trị và phòng bệnh 

Hiện nay điều trị viêm gan virut C chủ yếu dùng interferon alpha. Đây là một chất do cơ thể sinh ra nhờ các tế bào đề kháng khi bị nhiễm virut. Sau khi tiêm interferon alpha, hầu hết bệnh nhân thấy sốt nhẹ, mệt mỏi giống như cúm trong vài giờ, đó chính là interferon alpha đã  khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại HCV. Những triệu chứng này giảm dần sau một vài tuần. Người ta còn dùng phối hợp kháng sinh như kết hợp interferon alpha với ribavirin cho kết quả khỏi bệnh cao hơn. Phác đồ điều trị tối ưu hiện nay là sử dụng kết hợp peg-interferon (Pegasys hoặc Peg-Intron) với ribavirine. Thời gian điều trị phải kéo dài từ 6 - 12 tháng tùy từng trường hợp. 

Để phòng bệnh cần thực hiện các biện pháp : tập thể dục, thể thao vừa sức giúp  tăng  cường sức khỏe. Hạn chế uống rượu bia, bởi vì xơ gan dễ xảy ra hơn ở người viêm gan đồng thời nghiện rượu. Bệnh nhân viêm gan C có thể ăn theo chế độ ăn bình thường. Khi đã xơ gan, nên áp dụng chế độ ăn giảm muối. Nên sử dụng phương pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

BS. Trần Thanh Tâm

Thực đơn thông thái có thể chữa các loại bệnh gan như: Vàng da, Xơ gan, Viêm gan do virus.
Vàng da

Công thức 1: Cá chạch 100g, đậu phụ hai miếng. Chạch rửa sạch nhớt, mổ bỏ ruột, cắt thành khúc, đậu phụ thái lát cho thêm muối gừng vào cả hai vị, nấu chín ăn. Chữa vàng da do thấp nhiệt.

Công thức 2: Dây dưa chuột (một cây), trứng gà (một quả). Sắc dây dưa chuột trước bằng hai bát nước, còn một bát. Sau đó đập trứng gà vào đánh đều, đổ vào ăn canh.

Công thức 3: Thịt lợn nạc (60 g), cỏ gà (30g), táo đỏ (4 quả). Thịt lợn nạc rửa sạch, thái miếng, cho vào cùng với cỏ gà, táo đỏ nấu chín, ăn thịt gà và uống hết nước.

Công thức 4: Đậu xanh (30g), đậu đỏ (30g). Rửa sạch cho vào nồi, nấu lên thành canh cho đường trắng vào pha, uống nước thay trà.

Xơ gan

Công thức 1: Dạ dày lợn (một chiếc), cóc (một con). Cóc làm sạch, mổ bỏ nội tạng, lột bỏ da vào trong dạ dày lợn đã làm sạch lấy dây buộc chặt lại. Khi nấu đun nhỏ lửa, chín thì ăn dạ dày và uống canh, chia làm 4 - 6 lần ăn cho hết.

Công thức 2: Đậu xanh (50g), mật lợn (4 cái). Đậu xanh rang, nghiền bột, sau đó cho nước mật lợn vào trộn, viên lại thành viên to bằng hạt đỗ. Mỗi lần ăn từ 6 - 9 gam.

Công thức 3: Thịt lợn nạc (250g), thương lục (10g). Thịt lợn rửa sạch, thái miếng, cho cùng với thương lục vào nồi, đổ nước vào nấu, uống nước. Có thể ăn cả thịt lợn.

Viêm gan do virus

Công thức 1: Cá chạch (hai kg). Trước tiên cho chạch thả vào chậu nước sạch một ngày, sau đó đem hấp chín, sấy khô, tán thành bột, cho vào lọ dùng dần. Mỗi lần ăn ba lần ăn 10 gam, ăn với nước sôi để nguội.

Công thức 2: Dấm (một lít), xương sống lợn tươi (500 gam), đường đỏ (125 g), đường trắng (125 g). Đập nát xương sống ra, trộn đường, dấm cho vào nồi đất, không cho nước, nấu sôi 30 phút, để nguội dùng vải màn sạch vắt nước để dùng dần. Người lớn mỗi lần 30 - 40ml, mỗi ngày ba lần uống, sau khi ăn cơm.

Công thức 3: Rau cần tươi (150 gam), mật ong (50ml). Rau cần rửa sạch giã nát lấy nước, sau đó đổ mật ong vào, cho vào nấu cách thủy 20 phút sau là có thể dùng được.

Công thức 4: Gan lợn (250g), cỏ gà (150g). Gan lợn rửa sạch, cho cả cỏ gà vào nồi nấu chín, bỏ bã cỏ, ăn gan lợn và uống hết nước, chia làm 2 - 3 lần ăn cho hết. Mỗi ngày ăn hai lần vào buổi sáng và tối.

Công thức 5: Táo đỏ (50g), lạc (50g), đường trắng (30g). Táo bỏ hạt, lạc bỏ vỏ, trước tiên nấu lạc cho nhừ, sau đó cho táo đỏ, cuối cùng mới cho đường vào, ăn trước khi đi ngủ, mỗi ngày một lần.

Công thức 6: Ốc đồng (250g), cỏ gà (15g). Ốc nuôi trong nước sạch hai ngày, sau đó rửa sạch, cho vào nồi cùng với cỏ gà nấu lấy nước uống chữa viêm gan mãn tính.

Công thức 7: Gà mái (một con), vừng đen (90 g), trần bì (5 g). Gà làm thịt, bỏ nội tạng, rửa sạch, vừng, trần bì cho vào bụng con gà, ninh chín chia làm vài lần ăn, bài này chữa viêm gan mãn tính.

Đức Mạnh

Vi khuẩn viêm gan C là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến bệnh viêm gan mãn tính tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Người ta ước đoán từ 1 đến 2% tổng số dân chúng toàn cầu, nghĩa là khoảng 100 triệu người đang bị viêm gan C. Với tỷ lệ 1.9%, nước Mỹ có khoảng 4 triệu bệnh nhân viêm gan C. Trong đó sẽ có từ 8 đến 10 ngàn người thiệt mạng mỗi năm. Riêng tại Quận Cam, nơi có nhiều người Việt cư ngụ, trong năm 2002 có 2,166 trường hợp mắc bệnh viêm gan C mãn tính trong số đó 228 là người Việt.

Khoảng 2 % dân chúng toàn cầu đang bị viêm gan C.
Vi khuẩn viêm gan C là nguyên nhân hàng đầu gây ra viêm gan mãn tính tại Hoa Kỳ.
Khoảng 80% bệnh nhân khi bị lây bệnh viêm gan C sẽ trở thành mãn tính. Trong số này, khoảng 20 - 30% sẽ bị chai gan và ung thư gan.
Trên nước Mỹ, với hơn 4 triệu người đang bị viêm gan C mãn tính, sẽ có từ 8 đến 10 ngàn người lìa trần mỗi năm vì căn bệnh này.
1 trong 20 đến 40 người Việt Nam đã và đang bị bệnh viêm gan C mãn tính.
Đa số bệnh nhân viêm gan C cấp tính và mãn tính đều không có triệu chứng gì đáng kể.
Bệnh lây qua máu và vấn đề sinh lý, không lây qua thức ăn và nước uống. Những người có nguy cơ dễ bị viêm gan C nhất, là bệnh nhân đã được nhận máu trước năm 1992.
Tùy theo kiểu gene (genotype) của vi khuẩn viêm gan C, gần 90% bệnh nhân viêm gan C mãn tính sẽ được chữa hết bệnh, nếu được khám phá và chữa trị kịp thời.
Cho tới nay vẫn chưa có thuốc chích ngừa bệnh viêm gan C.

NGUỒN GỐC CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN C

Vi khuẩn viêm gan C là một loại vi khuẩn RNA kỳ lạ với khả năng thay đổi đặc tính di truyền một cách nhanh chóng và dễ dàng. Tuy đã lan tràn khắp nơi trên thế giới từ hơn hai ngàn năm qua, mãi tới những năm 1990, người ta mới khám phá ra sự hiện diện của vi khuẩn này.

Tuy những cơn "dịch vàng da" lây từ thức ăn và nước uống đã được mô tả từ nhiều năm trước Chúa Giáng Sinh, nhưng mãi đến cuối thế kỷ thứ 19, người ta mới bắt đầu hồ nghi là bệnh viêm gan cũng có thể lây qua máu và kim chích. Rồi hơn 3 phần tư thế kỷ trôi qua, với phát minh của một số phương thức thử nghiệm máu, người ta bắt đầu nhận diện được một loại vi khuẩn viêm gan mới. Qua sự khám phá này, họ tin rằng có 2 loại vi khuẩn gây ra bệnh viêm gan. Một loại lây qua thức ăn; đó là vi khuẩn viêm gan A. Một loại lây qua máu; đó là vi khuẩn viêm gan B. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, người ta nhận thấy điều này không hoàn toàn đúng, vì đa số bệnh nhân viêm gan không phải do vi khuẩn viêm gan A hoặc B gây ra. Vì thế danh từ "non-A, non-B hepatitis" ra đời vào đầu năm 1974, để diễn tả những trường hợp này.

Sau hơn một phần tư thế kỷ, với kỹ thuật nghiên cứu các phân tử cực kỳ nhỏ bé (molecular biologic techniques), các khoa học gia đã khám phá thêm một vi khuẩn viêm gan thứ ba. Đó là vi khuẩn viêm gan C. Trong vòng một thời gian ngắn, họ đã phát họa được cơ cấu và hình thù của vi khuẩn viêm gan này một cách chi tiết với từng chất hóa học xếp dọc theo thứ tự trên "chuỗi" nhiễm thể RNA. Khám phá này là một điểm son lịch sử, dẫn đầu cho hàng loạt những khám phá quan trọng kế tiếp trong việc chữa trị bệnh viêm gan C. Song song vơí những cuộc nghiên cứu công phu và tỷ mỷ về những bệnh nhiễm trùng khác, nhất là bệnh AIDS, sự hiểu biết về vi khuẩn viêm gan C và cách thức chữa bệnh tiếp tục tăng trưởng một cách rất khả quan.

ĐẶC TÍNH CỦA VI KHUẨN VIÊM GAN C

Vi khuẩn viêm gan C cực kỳ nhỏ bé, với đường kính là 50 nm, nên phải nhìn dưới kính hiển vi điện tử mới thấy được. Vi khuẩn được bảo vệ bởi một lớp vỏ kiên cố, nên phải nấu sôi lên 100 độ C trong vòng 5 phút mới có thể tiêu diệt được chúng. Khi xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn viêm gan C có khuynh hướng tàn phá và tiêu hủy gan của chúng ta một cách tương đối chậm chạp nhưng chắc chắn, đưa tới viêm gan (inflammation, hepatitis), xơ gan (liver fibrosis), chai gan (liver cirrhosis) và ung thư gan (liver cancer).

Trong lúc tăng trưởng, chúng có khả năng thay đổi đặc tính di truyền RNA của mình, "hóa trang" và "biến dạng" thành nhiều "hình thù" khác nhau. Khả năng biến hóa này đã giúp chúng thoát khỏi vòng kiểm soát chặt chẽ của hệ thống miễn nhiễm (immune system). Vì thế, sau một thời gian ngắn, cơ thể chúng ta, có thể chứa đựng hàng tỷ vi khuẩn viêm gan C với nhiều mã di truyền khác nhau, với những chiếc "áo giáp" khác nhau.

Sự biến đổi chất nhiễm thể trong hơn 2000 năm qua, đã tạo ra nhiều "kiểu gene" khác nhau (genotypes) với những tên như vi khuẩn viêm gan C số 1, vi khuẩn viêm gan C số 2, vi khuẩn viêm gan C số 3, v.v. Trong mỗi "genotype" này, người ta còn phân chia thành những tiểu loại (subtypes) a, b, c, d, e, v.v., dựa theo một số đặc tính chính yếu khác nhau. Vì thế vi khuẩn viêm gan C được phân loại thành viêm gan C 1a, 1b, 1c, 2a, 2b, 2c, 2d, 3a, 3b, 3c, 3d, 3f, 4a, 4b v.v. Khám phá này ban đầu chỉ dùng trong những cuộc khảo cứu, nhưng nay đã trở thành một lối thử máu vô cùng quan trọng trong quá trình chữa bệnh viêm gan C.

Trong các loại vi khuẩn viêm gan C, loại genotype số 1 chiếm tỷ lệ cao nhất trên thế giới nói chung và ở nước Mỹ nói riêng với 35% loại 1a và 35% loại 1b. Loại 1b cũng được tìm thấy nhiều nhất ở Âu châu, Nhật Bản cũng như Đài Loan. Loại số 3 thường thấy ở Pakistan, Úc, Scotland. Loại số 4 ở Trung Đông và Châu Phi cũng như South Africa. Loại số 6 tại Hồng Kông và Macau. Hơn 50% bệnh nhân Việt Nam đang được chữa trị bệnh viêm gan C trong phòng mạch của tôi thuộc loại 1a hoặc 1b. Phần còn lại thuộc loại số 6 hoặc số 7. Một số ít thuộc số 2/3. Nói một cách tổng quát, các loại genotypes đều "nguy hiểm" như nhau, nhưng vi khuẩn viêm gan C loại 2 và 3 dễ chữa nhất. Loại số 1, nhất là 1b khó chữa hơn cả.

CHÍCH NGỪA VIÊM GAN C?

Như trình bầy ở trên, với khả năng biến đổi đặc tính di truyền bằng cách thay thế những chất hóa học trên nhiễm thể của mình, vi khuẩn viêm gan C đã thoát khỏi "mạng lưới phòng thủ" của hệ thống miễn nhiễm. Đây cũng là lý do chính, mà cho tới nay, người ta vẫn chưa tìm được thuốc chích ngừa cho bệnh viêm gan C.

1) LÂY QUA MÁU:

Bệnh dễ lây nhất qua máu. Trước năm 1992, nhận máu (blood transfusion) là nguyên nhân chính đưa đến viêm gan C. Lúc bấy giờ y-khoa chưa có cách thử máu để truy tầm vi khuẩn viêm gan C, nên một trong 200 đơn vị máu đã có ít nhất một túi máu không may bị ô nhiễm. Ngày nay, với các loại test chính xác và hiệu nghiệm, nhận máu trở nên an toàn hơn nhiều với tỷ lệ lây bệnh viêm gan C trong lúc nhận máu là 1 trên 100.000.

2) LÂY QUA DỤNG CỤ Y KHOA:

Vi khuẩn viêm gan C có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta qua kim chích, đồ cạo râu, lưỡi lam hoặc bàn chải đánh răng, xâm mình (tattoo), cạo gió (coin rubbing), lể (Skin Puncture), châm cứu (acupuncture) hoặc mổ xẻ với những dụng cụ y-khoa, kim chích không được khử trùng đúng cách.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn của những năm chiến tranh, cách thức khử trùng thô sơ của kim chích đã gây mưng mủ (abscess) một cách thường xuyên. Ngày nay với những phương pháp khử trùng tối tân hơn, lây bệnh qua các dụng cụ y khoa như trong lúc nhổ răng, châm cứu, mổ xẻ v.v. trở nên rất hiếm hoi, nếu không muốn nói là không còn nữa.

3) LÂY TỪ MẸ:

Lây bệnh từ mẹ qua bé sơ sinh trong lúc sanh đẻ có thể xẩy ra, với tỷ lệ trên dưới 5%. Sanh đẻ tự nhiên (vaginal delivery) hay giải phẫu lấy con (C-section) đều có tỷ lệ lây bệnh tương đương như nhau. Bệnh dễ lây hơn nếu chỉ số máu của người mẹ có hơn 2 đến 3 triệu siêu vi C trong mỗi một cc. Bệnh không lây qua sữa mẹ, nên không phải kiêng cữ trong việc cho con bú.

4) LÂY QUA ĐƯỜNG SINH LÝ:

Tuy bệnh viêm gan C có thể lây trong lúc giao hợp với người có bệnh, điều này hiếm khi xẩy ra, với tỷ lệ chưa đến 5%. Vì thế, cơ quan CDC cho rằng những vợ chồng chung thủy hoặc tình nhân gắn bó (monogamous patients) không cần kiêng cữ hoặc thay đổi đời sống tình dục. Những người "đào hoa" hơn với nhiều nhân tình khác nhau nên "đeo" áo mưa (condom) để tránh lây bệnh viêm gan C, cũng như các loại bệnh khác như hoa mai, giang liễu, AIDS, viêm gan B v.v.

Ngoài ra, một số bệnh nhân "tự nhiên" bị lây bệnh mà không biết nguyên nhân từ đâu. Trong số này có khoảng 10% bệnh nhân viêm gan C cấp tính và 30% viêm gan C mãn tính. Người ta cho rằng trong những trường hợp này, bệnh nhân đã tiếp xúc với vi khuẩn viêm gan C trong lúc té ngã, trầy trụa hoặc đứt tay chân mà không hề hay biết.

Tuy một số vi khuẩn viêm gan C được tìm thấy trong mồ hôi và nước bọt, ăn uống chung hoặc va chạm thể xác trong đời sống hằøng ngày với bệnh nhân viêm gan C, không lấy gì là nguy hiểm.

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH VIÊM GAN C:

Cũng như viêm gan A và B, bệnh nhân viêm gan C thường không có bất cứ một triệu chứng nào. Người ta chia ra làm 2 trường hợp: viêm gan cấp tính (acute) và viêm gan mãn tính (chronic).

1) VIÊM GAN C CẤP TÍNH:

Thông thường từ 7 đến 8 tuần sau khi bị lây bệnh, khoảng 30 % bệnh nhân viêm gan C bỗng dưng cảm thấy hơi khó chịu như những cơn cảm cúm sơ sài. Bệnh không tấn công gan một cách "ồ ạt" hoặc tàn phá một cách dữ dội, nên gần như sẽ không ai thiệt mạng một cách "bất đắc kỳ tử" vì căn bệnh này.

Một số bệnh nhân có thể bị nhức đầu, mệt mỏi, đau nhức khớp xương và bắp thịt. Nhiều khi họ cũng cảm thấy buồn nôn, khó chịu, đau bụng, tiêu chảy, ăn kém ngon, xuống ký. Đôi khi bị sốt hoặc nổi ngứa. Khoảng 30% bệnh nhân viêm gan C da và mắt trở nên vàng (jaundice). Các triệu chứng này thường kéo dài từ 6 đến 8 tuần và từ từ thuyên giảm, rồi hoàn toàn biến mất sau một thời gian ngắn. Bấy giờ, bệnh có thể sẽ nằm vào giai đoạn a) "ngủ yên", không hoạt động (dormant, less active), hoặc b) tiếp tục tăng trưởng (chronic active).

Cho tới nay, người ta vẫn chưa rõ, nguyên nhân và điều kiện nào sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến "số phận" của bệnh nhân viêm gan C. Nghĩa là ai sẽ được may mắn nằm trong trường hợp "ngủ yên", và ai sẽ tiếp tục bị bệnh viêm gan tàn phá cơ thể của mình. Nhưng một điều chắc chắn là khoảng 80 đến 90% bệnh nhân một khi bị lây bệnh viêm gan C mặc dầu sống rất khỏe mạnh, sẽ từ từ đi vào giai đoạn nguy hiểm hơn: viêm gan C mãn tính.

2) VIÊM GAN C MÃN TÍNH (Chronic Active Hepatitis):

a) Triệu Chứng Sơ Khởi:

Mặc dầu gan mỗi ngày một "yếu" đi, đa số bệnh nhân trong thời gian này vẫn chưa có bất cứ một triệu chứng nào đáng kể. Chỉ khoảng 6% bệnh nhân viêm gan C mới có một vài triệu chứng tiêu biểu. Nhưng những triệu chứng này cũng rất mơ hồ và rất nhẹ, nên thường không được để ý tới. Triệu chứng thường xuyên nhất là mệt mỏi, thường vào xế chiều. Khả năng tập trung tư tưởng có thể giảm dần một cách tương đối nhanh chóng.

Một ít người cảm thấy đau "lâm râm", "nhoi nhói" phần bụng trên dưới xương sườn bên phải hoặc buồn nôn, khó chịu, da nổi ngứa, đau khớp xương và bắp thịt. Nếu không được khám phá và chữa trị kịp thời, bệnh mỗi ngày một nặng hơn. Gan mỗi ngày một viêm hơn, đưa đến xơ gan, rồi chai gan.

b) Hậu Quả Lâu Dài:

Thông thường, sau một thời gian trung bình là 20 năm, gan bắt đầu bị xơ và từ từ biến qua chai. Trong một số trường hợp hiếm hoi hơn, thời gian chuyển hóa từ viêm đến chai có thể kéo dài hơn 50 năm. Tốc độ chai gan của mỗi cá nhân, vì thế, còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau. Quan trọng nhất là trạng thái sưng đỏ của tế bào gan, khi bệnh mới được khám phá. Khi xác nghiệm tế bào dưới kính hiển vi, người ta có thể ước đoán được thời gian cần thiết để tế bào gan sẽ đi từ viêm sang chai.

c) Yếu Tố và Điều Kiện Bất Lợi:

Nhiều dữ kiện khác nhau có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến triển của bệnh viêm gan C. Vì thế bệnh có thể phát triển nhanh chóng hơn dự tính gấp nhiều lần. Những người bị viêm gan C sau khi nhận máu nhiễm khuẩn, sẽ bị chai gan nhanh hơn (thường từ 8 đến 14 năm sau khi bị lây bệnh). Có lẽ trong lúc nhận máu, cơ thể đã bị "tấn công" và xâm lấn một cách "ồ ạt" bởi hàng tỷ vi khuẩn vi viêm gan C cùng một lúc, nên gan bị viêm nặng hơn.

Rượu bia, nếu uống quá nhiều sẽ gây tổn thương tế bào gan, và gan sẽ bị chai nhanh hơn. Người viêm gan C mãn tính mà uống quá nhiều rượu bia, không khác gì như "châm dầu vào lửa".

Một số thuốc khác nhau cũng có thể làm cho lá gan bị chai nhanh hơn. Vì thế, người viêm gan C nên rất thận trọng khi uống bất cứ một loại thuốc nào, ngay cả các loại thuốc cỏ cây bày bán trên thị trường mà không cần toa bác sĩ.

Gan cũng sẽ bị hư nhanh chóng hơn nếu cùng một lúc bệnh nhân bị nhiễm trùng bởi nhiều loại vi khuẩn viêm gan khác nhau. Đây là trường hợp khi bệnh nhân bị cùng một lúc nhiều loại bệnh nhiễm trùng khác nhau như viêm gan B, viêm gan C, viêm gan D hoặc bệnh HIV-AIDS.

May mắn thay, không phải ai bị viêm gan C cũng sẽ bị chai gan. Và trên lý thuyết chỉ khoảng 5% bệnh nhân viêm gan C mới bị thiệt mạng bởi căn bệnh này. Tuy thế, với 2% tổng số dân chúng toàn cầu, viêm gan C đã trở thành một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trong thế kỷ 21. Riêng tại Mỹ, sẽ có khoảng 8 đến 10 ngàn người thiệt mạng mỗi năm.

Theo: BS Bùi Xuân Dương

TìmNhanh!- Ngứa là một cảm giác khó chịu của da khiến người bị ngứa phải gãi, để bớt ngứa. Ngứa có thể làm mất ngủ, hoặc bất tiện, gây trở ngại cho công việc. Đấy là chưa kể, bị ngứa, ngồi đâu gãi đấy, trông cũng khó coi.
Ngứa thường được chia làm hai loại:

Ngứa từng vùng nhỏ

nguyên nhân thường dễ hiểu. Chẳng hạn bạn bị muỗi đốt, chỗ bị đốt sưng lên, ngứa ngáy. Hoặc trời lạnh, da tay bạn đã khô, bạn lại rửa tay bằng nước nóng và xà-bông ngày nhiều lần, lưng bàn tay và các ngón tay của bạn khô càng thêm khô, sần lên, nứt nẻ và ngứa ngáy. 

Ngứa toàn cơ thể 

Nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên chứng ngứa toàn thân: 

Các bệnh ngoài da 

- Bệnh nổi mề đay 

Rất hay xảy ra. Da nổi những mẩn đỏ, ngứa, xuất hiện độ vài tiếng rồi biến đi, để rồi lại mọc ở chỗ khác trên da. Bệnh gây bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. 

- Ngứa do tuổi tác

Da càng khô càng dễ bị ngứa. Da tự tiết ra một chất nhờn đặc biệt gọi là “sebum”, có tác dụng giữ cho da khỏi bị khô. Càng lớn tuổi, sự tiết chất sebum càng giảm dần (nên da trông không còn tươi mát như lúc còn trẻ). Một số các vị lớn tuổi bị ngứa quanh năm, do da không còn tiết đủ chất sebum như trước. Ngứa sẽ nặng hơn vào mùa lạnh, khi có nhiều yếu tố khác nữa làm da thêm khô. 

- Ngứa mùa đông

Vào mùa đông, khí lạnh làm da khô. Da khô khiến ta dễ cảm thấy ngứa. Cái lạnh làm nhiều người thích tắm nước nóng hơn bình thường. Vào những ngày lạnh quá, sưởi được bật lên để mọi người trong nhà được ấm. Nước nóng, sưởi (củi, điện hay gas) làm da càng thêm khô và ngứa. Gãi mới đã ngứa. Có người lại dùng rượu, chanh, dầu xanh... chà xát trên da, hi vọng bớt ngứa. Những chỗ do bị gãi và chà xát, trở thành sần sùi, dộp lên. Những chỗ da bị dộp lên này lại càng ngứa hơn, làm người bị ngứa càng gãi nhiều hơn. Tất cả những yếu tố kể trên gộp lại làm da càng lúc càng thêm ngứa trong mùa đông. 

- Bệnh cái ghẻ hay bệnh chấy, rận

Bệnh cái ghẻ, hay chấy, rận gây bởi những ký sinh trùng, lây từ người nọ sang người kia do sự chung đụng. Vì vậy, có thể vài người trong nhà cùng bị. 

Bệnh cái ghẻ hay gây ngứa ở những vùng như kẽ ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, nách, vú, rốn, bộ phận sinh dục, ... Con cái ghẻ phải nhìn bằng kính hiển vi mới thấy, nhưng tạo những đường hầm đặc biệt nhìn thấy được bằng mắt thường ở những vùng bị ngứa nhiều. Người bị bệnh cái ghẻ ngứa nhiều hơn về buổi tối và ban đêm. Chấy, rận thấy được bằng mắt thường. Chấy lập nghiệp trên đầu, còn rận chạy lăng quăng trên người), hoặc định cư ở vùng háng . 

- Bọ thú vật cắn

Nếu bạn có nuôi chó để trông nhà, hay mèo bốn chân để bắt chuột, và bất ngờ trong nhà có người bị ngứa, bạn nhớ cẩn thận xem chó hay mèo của bạn có làm bạn với mấy chú bọ con con (fleas) hay không. Chán máu chó, mèo, mấy chú bọ có thể đổi bữa, thử máu người xem sao, chích đốt những người trong gia đình bạn, gây ngứa ở chỗ da bị chích đốt, hoặc có thể gây cả phản ứng ngứa da toàn diện. 

- Bệnh vảy nến

Một bệnh da nhiều người bị. Bệnh tạo những vết đỏ, dày trên da trông giống những vẩy nến. Các vết psoriasis hay hiện diện ở khuỷu tay và đầu gối, nhưng có thể mọc trên da nhiều nơi, cả ở trên đầu, trên móng tay và trong miệng. 

Các bệnh bên trong cơ thể 

- Suy thận kinh niên

Trong các bệnh nội thương, suy thận kinh niên là bệnh hay gây ngứa nhất. 90% những người suy thận nặng cần được lọc thận bị ngứa. Ngứa do suy thận nặng hơn về mùa hè. 

Bệnh gan

Bệnh gan có nhiều loại. Loại gây tắc nghẽn và ứ đọng mật (trong hay ngoài gan) cũng hay gây ngứa, chỉ đứng hàng thứ nhì sau bệnh suy thận kinh niên. 

- Bệnh cường tuyến giáp trạng

5% những người bị bệnh cường tuyến giáp trạng than ngứa ngáy. Ngứa bớt dần khi bệnh được chữa trị và kiểm soát. 

- Bệnh ung thư Hogkin

Hogkin là bệnh ung thư gây nổi hạch ở nhiều nơi trong cơ thể, có thể chữa trị được nếu khám phá sớm. 15% những người bị bệnh ung thư Hogkin than ngứa. 

- Bệnh quá nhiều chất Hemoglobin trong máu 

Trong bệnh này, cơ thể sản xuất quá nhiều hồng cầu và chất Hemoglobin lưu thông trong máu, làm máu đặc hơn bình thường. 14-52% người có bệnh này bị ngứa, nhất là sau khi tắm với nước ấm hay nước nóng. 

Trên đây là những bệnh được biết chắc có thể gây ngứa. Nhiều bệnh khác như tiểu đường, suy tuyến giáp trạng, thiếu máu do thiếu chất sắt, các bệnh ung thư khác ngoài bệnh Hogkin... có thể gây ngứa.

Ngoài ra, các trạng thái căng thẳng tinh thần, và một số bệnh tâm thần cũng khiến nhiều người cảm thấy ngứa ngáy. Chứng ngứa này được gọi là ngứa tâm lý. Tuy nhiên, chỉ nên định bệnh là ngứa tâm lý, sau một thời gian tìm hiểu và theo dõi, để biết chắc là không có một tật bệnh nào khác quan trọng trong cơ thể gây ra chứng ngứa. 

Bạn nên làm gì? 

- Nếu mới ngứa vài ba ngày, trên da không thấy có gì lạ, nguyên nhân của ngứa có thể chỉ là những gì thông thường: ngứa mùa đông (nếu trong mùa lạnh), do mới dùng một thuốc gì lạ, ... Bạn có thể thử dùng những thuốc chữa ngứa như Benadryl, Chlor-Trimeton, Tavist, ... mua ngoài nhà thuốc, trong lúc cố tìm nguyên nhân gây ngứa để tránh. Dùng những thuốc này, khi lái xe, hoặc điều khiển những máy móc nguy hiểm, bạn nên cẩn thận, vì thuốc hay làm người ngầy ngật, buồn ngủ. Thuốc Claritin nay mua không cần toa, uống không buồn ngủ. 

- Nếu đang trong mùa lạnh, bạn nên tắm mau với nước vừa đủ ấm, và dùng những loại xà-bông không làm mất nhiều chất nhờn của da như xà-bông Dove. Không dùng xà-bông lại càng tốt, hoặc chỉ dùng ở những vùng nhiều mồ hôi như nách, háng, khuỷu tay, khuỷu chân. 

- Không nên tắm ngày nhiều lần. Sau khi tắm, nên thoa da bằng những loại lotion làm da bớt khô như Keri lotion, Vaseline lotion 

- Không nên chà xát da với rượu, chanh, dầu xanh, ... Và xin... cố đừng gãi. Bạn cũng đừng mặc đồ len trực tiếp trên da. 

- Không nên tiếp xúc nhiều với thú vật nuôi. Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ.
Thời gian qua tại ký túc xá một số trường đại học đã xảy ra hàng loạt các trường hợp sinh viên bị viêm ngứa da. Sau đây là cách phòng và điều trị các bệnh viêm ngứa da dễ lây trong không khí.

Các nguyên nhân có thể gây ngứa da:

1. Bệnh thủy đậu và Zona.

2. Viêm da tiếp xúc với hóa chất từ thực vật.

3. Viêm da tiếp xúc với hóa chất từ động vật.

4. Viêm da dị ứng: dị ứng do thời tiết và phấn hoa.

5. Bệnh của da
: Nấm da, nấm kẽ, nấm móng, lang ben, nấm tóc, bệnh rận lông mu (do con rận sống trên da vùng có lông, tóc hút máu gây ra ngứa), ghẻ.

6. Do các bệnh trong cơ thể:

  + Nhiễm ký sinh trùng đường ruột (giun sán): da hay nổi mẩn ngứa.

  + Bệnh tiểu đường: thường gây ngứa ở da, mụn nhọt, nhiễm nấm.

  + Suy thận: không thải được các chất độc ra ngoài cũng gây ngứa da.

  + Thay đổi nội tiết: khi mang thai thường bị ngứa da lan tỏa.

  + Bệnh bạch huyết ác tính: thường ngứa dữ dội từng đợt, kèm hạch bạch huyết sưng to.

  + Mụn nhọt thân thể.

  + Sùi mào gà: gây các nốt mụn sần trên da.

  + Viêm gan, suy gan.

  + Bệnh mụn rộp do vi-rút Herpes.

  + HIV & AIDS.

7. Do hóa chất: chất độc da cam, mỹ phẩm…

Việc xác định nguyên nhân gây ngứa phải căn cứ vào soi tổn thương da tại chỗ, tìm ký sinh trùng hoặc cấy tìm vi sinh vật gây bệnh.

Viêm da tiếp xúc với hóa chất từ thực vật:

  * Viêm da quang thực vật: Thường xuất hiện vào cuối mùa hè, đầu mùa thu.

     - Nguyên nhân: Trong lá cây có một số chất giúp thực vật tự kháng lại vi nấm. Chất này thường hiện diện trong hai họ thực vật là họ hoa dạng tán và họ cam. Nhiều họ cây khác cũng có chứa độc tố gây hại cho da như họ cây cửu lý hương, họ dâu tằm, họ đậu…

     - Triệu chứng: Sau khi tiếp xúc với hóa chất 30-120 phút, da sẽ nổi những mảng đỏ, phù, ngoằn ngoèo. 24-72 giờ sau, các mụn nước xuất hiện, đau nhưng không ngứa. Sau 1-2 tuần, có khi kéo dài hàng tháng hàng năm, vùng da bệnh sẽ thâm đen.

     - Phòng và điều trị:

       + Không nên trồng cây thuộc các họ kể trên ở gần nhà.

       + Bảo hộ khi sinh hoạt hoặc làm việc dưới tán cây.

       + Rửa ngay với xà phòng và nhiều nước nếu tiếp xúc với thực vật nghi ngờ.

  * Viêm da dị ứng:

     - Nguyên nhân: Thường gặp do tiếp xúc với lá một số cây họ điều, họ cúc, xoài và bạch quả. Ở vùng trung du miền Bắc, điển hình nhất là cây sơn trồng để lấy gỗ và nhựa dùng trong sơn mài. Chỉ đi ngang qua rừng trồng sơn, nhiều người đã bị sưng phù mặt mày và ngứa ngáy.

     - Triệu chứng: Sau khi tiếp xúc, phần da hở của cơ thể như bàn tay, cánh tay, chân sẽ đỏ ngứa chỉ 15 phút sau tiếp cận, phát triển ngày càng nhiều trong vòng 2 ngày. Sau đó nổi mụn nước, bóng nước trên bề mặt thương tổn da.

     - Phòng và điều trị:

      + Ngay sau khi tiếp xúc với độc tố thực vật nghi ngờ, nên tắm  với xà phòng vì sau 60 phút đã bám vào da thì không rửa được nữa.

      + Xả bằng nước lạnh, không dùng nước nóng vì nước nóng khiến lỗ chân lông trên da nở rộng mở đường cho độc chất xâm nhập. Sau khi xả để nước bốc hơi tự nhiên hoặc với quạt máy chứ đừng lau bằng khăn sẽ làm nhựa độc lan ra.

      + Sau khi làm da mát lạnh, xoa thuốc giảm ngứa, ngừa rỉ nước như calamine, kem hydrocortisone 1%. Có thể dùng thuốc uống chống histamine như Benadryl, Atarax, Periactin.

Viêm da tiếp xúc với hóa chất từ động vật:

  * Viêm da do sâu bướm:

     - Nguyên nhân: do tiếp xúc trực tiếp với các độc tố gây kích ứng da có trong nhiều chủng sâu bướm. Da ngứa gây cào gãi và tạo đường cho nhiều hóa chất có trong lông của sâu bướm thâm nhập vào da. Kén sâu bướm treo lơ lửng trên cành và lá cây. Gió sẽ giúp khuếch tán lông hoặc kén sâu vào trong không khí và rơi trên da hoặc quần áo chúng ta.

     - Triệu chứng: Sau tiếp xúc một thời gian ngắn, da nổi những sẩn đỏ và mụn nước, gây bỏng rát, ngứa kéo dài 12 giờ sau tiếp xúc.

     - Phòng và điều trị: Rửa sạch vùng da tổn thương để loại bỏ hóa chất và lông sâu bám trên da. Có thể dùng một số loại thuốc bôi dịu da và thuốc uống chống ngứa. Tuy nhiên, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa Da liễu.

  * Tổn thương da do nhện cắn:

     - Nguyên nhân: Đa phần độc tố nhện chỉ gây đau, sưng đỏ vùng bị cắn. Tuy nhiên, một số độc tố có thể gây hoại tử da, hoặc tổn thương cơ – thần kinh.

     - Triệu chứng: Thường thì người bệnh không cảm nhận được vết nhện cắn ngay thời điểm xảy ra. Nhưng sau đó da sẽ bị sưng phồng hình tổ ong tại vị trí bị cắn và lan rộng dần, gây ngứa nhiều, cảm giác hơi đau khi cào gãi. Sờ mảng da tổn thương sẽ có cảm giác sâu, nóng, cứng. Những trường hợp nặng, da dần tái màu, hoại tử lan rộng và sâu, tạo các vết loét rất khó lành.

     - Điều trị: Bệnh tự khỏi dần. Một số trường hợp vết cắn sưng to, ngứa nhiều có thể băng ép lạnh và thuốc uống chống ngứa. Một số trường hợp gây tổn thương toàn thân như chóng mặt, nhức đầu, vã mồ hôi, nôn ói; trầm trọng hơn là gây tổn thương máu, thần kinh, cơ, nội tạng thì nên nhập bệnh viện chuyên khoa.

  * Do côn trùng Rove Beetle:                                                                       

     - Côn trùng này khi đậu lên da sẽ gây nhột, nếu đập chết sẽ xịt ra nước gây viêm da dị ứng, có thể bị tái bệnh nhiều lần, thường gây tổn thương trên vùng da trần như tay, cổ, mặt… Côn trùng này sống ở những nơi có nhiều cỏ mục, bụi cỏ, rơm, rạ. Do côn trùng này rất thích ánh sáng nên thường bay theo gió, trúng ai thì người đó chịu.

Một số bệnh ngứa da khác do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng… gồm 2 nhóm:

    - Nhóm không lây: Hạt cơm, Herpet, Zona (giời leo), do vi-rút, không lây cho người tiếp xúc.

    - Nhóm chỉ lây qua tiếp xúc chặt chẽ lâu dài, nhất là đối với những người suy giảm miễn dịch: nấm ngoài da (hắc lào), bệnh ghẻ có khả năng lây lan mạnh. Ở nhiều đơn vị phải nằm chung giường, đắp chung chăn, dùng chung chậu, bệnh nấm có lúc lên tới 20-30%, bệnh ghẻ tới 40-60% quân số.

TS. Bùi Mạnh Hà
(Theo sotayhangngay.wordpress.com)

Nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân gây sạm da. Sau viêm nhiễm, da bị tăng sắc tố, trở nên xanh xám, nâu. Hiện tượng này sẽ dần biến mất, nhanh hay chậm tuỳ vào độ sâu của vết thương.

Bình thường, chỗ da trên cơ thể có ánh sáng mặt trời chiếu vào nhiều sẽ sẫm màu một cách đồng đều. Trong chứng sạm da có sự xuất hiện những nốt hay mảng màu sẫm hơn xung quanh. Đó là tình trạng tăng nhiễm sắc tố. Bệnh không nguy hiểm nhưng là mối quan tâm không nhỏ về mặt thẩm mỹ của nhiều người.

Sự khác nhau về màu da ở con người liên quan đến số lượng melanin, oxyhemoglobin, hemoglobin khử và caroten. Melanin là sắc tố chủ yếu tạo nên màu da, tóc và mắt. Nó cũng là lá chắn làm giảm tác hại của tia cực tím đối với da, ngăn ngừa các phản ứng viêm da do ánh nắng. Sạm da có thể toàn thân hay khu trú. Da có thể nhẵn hay xù xì, lan tỏa hay từng mảng, có màu nâu vàng (nám da), cà phê sữa hay đen, kèm ngứa hay triệu chứng của các bệnh khác. Có nhiều nguyên nhân gây sạm da:

Do rối loạn sắc tố, di truyền: Da của bệnh nhân có chỗ bị đen, có nhiều nốt ruồi đen, bớt bẩm sinh, vết chàm trên môi, mặt, ngón tay. Đơn cử là bệnh u xơ thần kinh - một bệnh di truyền trội, xuất hiện từ lúc 3 tuổi. Thương tổn da chủ yếu ở thân mình, tứ chi. Đó là các dát màu nâu, hơi vàng hay cà phê sữa, kích thước mảng 1-1,5 cm, có trên 6 mảng, kèm theo nhiều u xơ nhỏ, có chân dính với da, đặc biệt chỉ khu trú ở phần trên cơ thể, kèm theo là triệu chứng của u tuyến cận giáp.

Nguyên nhân nội tiết: Ở bệnh suy thượng thận kinh diễn hai bên, 94% trường hợp có sạm da. Chỗ da tiếp xúc với mặt trời bị sạm lan tỏa, không đồng đều, da khô, xỉn, kém đàn hồi, niêm mạc sẫm. Các biểu hiện khác: yếu cơ toàn thân, mau mệt mỏi, huyết áp hạ (tối đa 85-90 mmHg). Bệnh nhân chán ăn, buồn nôn, đau bụng từng cơn, gầy nhanh, suy kiệt. Sạm da còn có thể do rối loạn chức phận tuyến yên, tuyến sinh dục. Sự thay đổi nội tiết cũng gây sạm da ở phụ nữ có thai. Sau khi sinh, bệnh sẽ bớt hoặc khỏi, nhưng cũng có khi tồn tại vĩnh viễn.

Nguyên nhân chuyển hóa: Biểu hiện ở bệnh nhiễm sắc tố sắt do bị ứ đọng quá mức chất sắt trong cơ thể, nhất là ở gan và các tổ chức, trong đó có da. Sạm da cũng hay gặp ở người xơ gan, đái tháo đường.

Nguyên nhân dinh dưỡng: Bệnh nhân suy dinh dưỡng trường diễn thường có các dát màu nâu bẩn ở khắp thân mình. Hiện tượng này cũng gặp ở các bệnh giảm protein, viêm cầu thận mạn, viêm đại tràng mạn, hội chứng giảm hấp thu, đôi khi tóc biến đổi thành màu đỏ nâu. Trong bệnh thiếu vitamin B12, tóc có màu nâu xám, da tăng sắc tố ở các khớp nhỏ của bàn tay.

Nguyên nhân hóa học: Bệnh hắc tố Riehl gặp ở những công nhân tiếp xúc với các sản phẩm dầu lửa, hắc ín, những người nội trợ dùng bếp ga, dầu hỏa; thường gặp ở lứa tuổi 30. Da sạm khi ra nắng, có hiện tượng ngứa nhẹ. Bắt đầu sạm da ở mặt, trán, thái dương, gò má, cằm, chi trên, bụng, ngực, chi dưới; lúc đầu sẫm, sau đó có màu đen, là những chấm hay mảng đen, da thô ráp. Bệnh nhân kém ăn, nhức đầu, gầy sút, suy nhược, nhịp tim chậm. Bệnh thường kéo dài, khó chữa. Sạm da cũng gặp ở những người lạm dụng hóa mỹ phẩm như kem bôi có hydroquinon; người dùng hóa trị liệu lâu ngày, dùng thuốc tránh thai, thuốc chống sốt rét, tetraxyclin.

Nguyên nhân lý học: Tổn thương da trong các chấn thương cơ học hay do bỏng, nóng, do tia tử ngoại... Thường sạm da khu trú ở những nơi tiếp xúc với các yếu tố trên, có khi là giảm sắc tố.

Nguyên nhân khối u: Các u ác tính ở giai đoạn cuối có thể làm da tăng sắc tố, có màu xanh đen. Các dát màu nâu, mịn như nhung, vị trí thường ở nách. Bệnh thường kết hợp với các ung thư biểu mô đường tiêu hóa, hô hấp.

Điều trị sạm da

Melanin có thể bị nhạt hoặc mất màu bởi các chất oxy hóa khử mạnh như oxy già, thuốc tím, vitamin C. Ngoài việc điều trị nguyên nhân, tránh tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh, ta còn có thể điều trị bằng vitamin C liều cao, Methionin, vitamin nhóm B, điều trị các bệnh tiêu hóa, an thần.

Có thể dùng điện thủy châm các huyệt can du, phế du, thận du bằng vitamin B12, vitamin H3, Novocain 1%. Điều trị 1-3 lần/tuần, mỗi đợt 2-3 tháng. Kết quả điều trị tốt 28%, vừa 41%, không khỏi 26%. Cách tốt nhất là khi bị sạm da, bệnh nhân phải đi khám bác sĩ chuyên khoa để xác định đúng nguyên nhân để được điều trị và phòng bệnh đúng cách.

(Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)

1. Ngáp

Ngáp là nhu cầu sinh lý của cơ thể. Đây cũng là tín hiệu cho thấy thần kinh đã mệt mỏi và được coi như một lời nhắc nhở rằng tại thời điểm này bạn cần được nghỉ ngơi.

Ngoài ra, ngáp giúp thư giãn cơ mắt, thúc đẩy tuần hoàn máu cho mắt để đôi mắt thêm sáng và cảm thấy thoải mái.

Các nhà khoa học tại Hiệp hội Y tế Mỹ cũng khuyến cáo rằng những người làm việc nhiều giờ hoặc người nhìn chằm chằm quá lâu vào máy tính có thể muốn ngáp để làm giảm sự mỏi mắt.

2. Vươn vai

 

Vươn vai khiến các cơ bị kéo dài và giãn ra có thể giúp phục hồi cơ thể khỏi sự mệt mỏi.

Vươn vai giúp các cơ căng ra, thúc đẩy hoạt động của cơ bắp, thư giãn cột sống, tăng lượng lưu thông máu và cải thiện lưu thông máu. Ngoài ra, chúng cũng cho phép máu chảy lên não tốt hơn từ đó làm giảm bớt mệt mỏi và mang lại sức sống.

Đặc biệt, vươn vai cho phép các cơ bắp, nhất là các cơ vùng thắt lưng co giãn và có khả năng ngăn chặn sự căng thẳng của cơ bắp vùng lưng, sửa chữa kịp thời cột sống.

 

3. Chuyển động vùng ngực

 

Nếu trong thời gian rảnh hoặc khi mệt mỏi, bạn có thể thực hiện vài động tác cho vùng ngực thì điều này không chỉ giúp cải thiện cơ ngực, tăng dung lượng khí cho phổi, cải thiện chức năng hô hấp từ đó nâng cao chất lượng công việc của bạn.

Hơn nữa luyện tập cho cơ ngực còn giúp kích thích tuyến ức để thúc đẩy tiết ra nhiều chất miễn dịch. Do đó nâng cao khả năng chống ung thư và đề kháng bệnh tật.


4. Hít thở sâu

 

Hít thở sâu có thể làm tăng lưu thông khí cho phổi và cải thiện độ bão hòa ô-xy, thúc đẩy các bộ phận cơ thể hoạt động đúng chức năng của chúng.

Ngoài ra, chúng có thể thúc đẩy tuần hoàn máu phổi, giúp khí độc còn sót lại trong phổi có cơ hội thải ra ngoài cơ thể.

Bên cạnh đó, hít thở sâu có thể kích thích các thiết bị phân tâm phế nang, cho phép cơ thể thư giãn và giảm bớt căng thẳng.

SGTT.VN - Sài Gòn Tiếp Thị ngày 21.9 đã đưa tin một người dân ở Bắc Ninh bị ngộ độc do uống mật gấu chữa đau lưng. Đây không phải là trường hợp hy hữu, vì thông tin từ các bệnh viện cho thấy từng xảy ra nhiều vụ ngộ độc liên quan đến nhiều loại mật chứ không riêng mật gấu.

 

 
 
Trong cơ thể mỗi người đều đã có mật, đưa thêm lượng mật bên ngoài vào là không cần thiết (trong ảnh là những lọ mật gấu được rao bán trên mạng internet).

 

Lợi chưa thấy, hại nhãn tiền

TS.BS Phạm Duệ, giám đốc trung tâm Chống độc thuộc bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) cho biết đã tiếp nhận điều trị nhiều trường hợp ngộ độc do nuốt mật rắn, mật bò tót, mật cá trắm, mật gà, mật cóc, mật heo, mật khỉ, mật rùa, mật ba ba... do tin vào các lời truyền miệng rằng mật có tác dụng tăng cường sinh lực, chữa trị một số bệnh huyết áp, yếu sinh lý, tiểu đường, gút, hen phế quản, đau lưng, viêm đại tràng… và cả ung thư! Có người nhập viện trong tình trạng đã vàng da, suy gan, suy thận nặng. Có trường hợp tử vong trên đường đưa đi cấp cứu. “Cần phải cảnh báo để người dân biết hiện chưa có tài liệu hay nghiên cứu khoa học nào cho thấy uống mật loài vật có tác dụng tốt cho sức khoẻ. Những trường hợp kể mình khỏi bệnh nhờ nuốt mật con này con kia đều là tự nói, chưa có kiểm chứng. Trong khi đó, những tác hại do nuốt các loại mật thì chúng tôi đã gặp rất nhiều”, BS Duệ nói. Đó là chưa nói, lợi dụng sự ngây thơ của nhiều người trong tìm mua mật của một số loài thú quý như gấu, bò tót... đã xuất hiện mật giả: túi mật được bơm hợp chất giống như mật.

BS Nguyễn Xuân Hướng, thầy thuốc nhân dân, chủ tịch hội Đông y Việt Nam kể, trong cuộc đời làm nghề thầy thuốc của mình ông đã tiếp nhận điều trị không biết bao nhiêu trường hợp ngộ độc do uống, nuốt mật, trong đó có cả một đồng nghiệp làm ở bệnh viện y học cổ truyền phía Bắc, sau khi uống rượu pha mật gấu đã bị nám đen người, móng rụng dần... Một trường hợp đáng tiếc khác là một giám đốc sở đã thiệt mạng khi vừa nhập viện do trước đó được bạn bè đãi rượu pha mật gấu. “Trong đông y, mật gấu chỉ được sử dụng với tỷ lệ rất ít vào một số loại thuốc viên để uống, chứ không bao giờ uống nguyên mật. Đông y chỉ công nhận giá trị của mật gấu ở việc xoa bóp bên ngoài khi bị tổn thương phần mềm và tụ máu. Với các loại mật khác, hầu như không có phương thuốc nào khuyến khích uống sống hay nuốt sống...”, BS Hướng nói.

Mọi chất mật đều chứa độc tố

TS.DS Đào Đại Cường, giảng viên khoa dược đại học Y dược TP.HCM, cho biết mọi chất mật đều có chứa độc tố. Dịch mật giúp tiêu hoá thức ăn, loài vật ăn gì thì thành phần cấu tạo của mật sẽ có những chất để tiêu hoá thức ăn đó. Dịch mật người khác dịch mật của loài vật. Chính vì thế khi uống mật, phải chú ý đến độ thích ứng của cơ thể với các chất có trong mật. Nếu sử dụng không đúng sẽ dẫn đến ngộ độc, thậm chí chết người. “Chưa kể đường dẫn mật thông với ruột, nơi chứa rất nhiều vi khuẩn. Nếu mật bị nhiễm khuẩn, uống sống cũng có nghĩa đã đưa mầm bệnh vào cơ thể...”, DS Cường lưu ý.

Theo BS Duệ, trong quá trình hoạt động sinh học, mật trong cơ thể các con vật chỉ tiết ra một lượng nhỏ vừa đủ để tiêu hoá thức ăn. Nếu bổ sung thêm từ bên ngoài một lượng mật khác sẽ làm cho lượng mật trong cơ thể tăng cao hơn mức bình thường và dễ gây ngộ độc, bởi trong mật có chứa axít. Ngoài ra, trong mật có muối kim loại, muối mật. Khi xuống thận, thận sẽ phải làm việc rất mệt mỏi để lọc các muối này. Nếu chức năng thận kém, muối mật, muối kim loại sẽ tích tụ lại gây viêm cầu thận, bể thận, hoặc lâu dài gây ra sỏi thận. Chưa kể trong một số loại mật còn có độc chất, như trong mật cá trắm có độc tố cyprinolsylfate, chất alcol steroid (5a-cyprinol), khi vào dạ dày, máu sẽ đi tới gan, thận gây suy gan, suy thận cấp; trong mật gấu chó, mật vịt có axít chenodeoxycholic gây viêm gan, xơ gan…; trong mật cóc có độc tố bufotoxin, catecholamin, indolealkylamin... “Trong cơ thể mỗi người đều đã có mật, thông thường mật này đủ để đảm đương hoạt động tiêu hoá thức ăn hàng ngày, do đó đưa thêm lượng mật bên ngoài vào là không cần thiết”, BS Duệ nhấn mạnh.

Lê Hương – Duy Nhân

Làm gì khi ngộ độc mật?

Tốt nhất không nên uống hay nuốt sống mật bất kỳ con vật nào. Nếu vô tình uống phải thì cần lưu ý những triệu chứng ngộ độc thường gặp sau khi nuốt mật là rối loạn tiêu hoá:

đau bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy; bệnh nhân đi tiểu ít, có khi vô niệu. Trường hợp nặng, bệnh nhân bị phù não, phù phổi cấp, viêm tế bào gan cấp, chậm nhịp tim, co giật toàn thân. Những bệnh nhân nặng hơn sẽ bị viêm gan nhiễm độc cấp, vàng da, vàng mắt, có thể tiến đến hôn mê rồi tử vong.

Khi có dấu hiệu trên, cần loại trừ càng sớm càng tốt chất độc ra khỏi cơ thể bằng cách gây nôn rồi nhanh chóng chuyển bệnh nhân nhập viện để rửa dạ dày, uống than hoạt tính…

HÃY TÌM HIỂU LÁ GAN CỦA CHÍNH MÌNH

Lá gan, cơ quan lớn nhất trong cơ thể bạn, đóng một vai trò sống còn trong việc điều hòa các diễn tiến của sự sống của bạn. Cơ quan phức tạp này thực hiện nhiều chứ năng thiết yếu cho cuộc sống. Bạn không thể sống mà không có nó.

                                                                                                                                                                          BS Phạm Thị Thu Thủy MEDIC

A.Chức năng Gan


“ Lá gan thực hiện nhiều chức năng thiết yếu cho cuộc sống ”

Lá gan của bạn, một cơ quan quan trọng cho sự sống.

Lá gan, cơ quan lớn nhất trong cơ thể bạn, đóng một vai trò sống còn trong việc điều hòa các diễn tiến của sự sống của bạn. Cơ quan phức tạp này thực hiện nhiều chứ năng thiết yếu cho cuộc sống. Bạn không thể sống mà không có nó.

Vị trí của lá gan.

Gan nằm ở phía bên phải trong ổ bụng, đằng sau các xương sườn (xem hình), cân nặng khoảng 1,2 kg---1,3kg và kích thước cỡ chừng quả bóng.

Các chức năng của lá gan của bạn

Cơ quan phức tạp này thực hiện nhiều chức năng phức tạp như:

  1. Biến đổi thức ăn thành những chất cần thiết cho sự sống và phát triển.
  2. Sản xuất ra nhiều chất quan trọng sử dụng cho cơ thể.
  3. Chuyển hoá các thuốc được hấp thụ từ đường tiêu hoá thành dạng cơ thể có thể dùng được, và
  4. Giải độc và bài tiết các chất độc trong cơ thể.

Lá gan của bạn đóng một vai trò chính yếu trong việc biến đổi thức ăn thành những chất thiết yếu cho cuộc sống. Tất cả lượng máu đi ra từ dạ dày và ruột đều phải đi qua gan trước khi tới phần còn lại của cơ thể. Như vậy lá gan nằm ở một vị trí chiến lược để chuyển đổi thực phẩm và thuốc được hấp thụ từ đuờng tiêu hoáthành các dạng mà cơ thể có thể sử dụng một cách dễ dàng. Về cơ bản, lá gan đóng vai trò của một nhà máy lọc và tinh chế

Hơn thế nữa, lá gan của bạn đóng một vai trò chính yếu trong việc loại bỏ ra khỏi máu các sản phẩm độc hại sinh ra từ ruột hay nội sinh (do cơ thể tạo ra). Gan chuyển đổi chúng thành những chất mà cơ thể có thể loại bỏ dễ dàng. Gan cũng tạo ra mật, một chất dịch màu nâu hơi xanh lục cần thiết cho sự tiêu hóa. Mật được dự trữ trong túi mật. Túi mật cô đặc vàtiết mật vào trong ruột, giúp cho sự tiêu hóa.

Nhiều thuốc dùng trị bệnh cũng được chuyển hoánhờ gan. Những thay đổi này chi phối hoạt tính của thuốc trong cơ thể.

Lá gan của bạn phục vụ bạn bằng cách:

  • Tạo ra nặng lượng một cách nhanh chóng khi cần thiết;
  • Sản xuất ra protein mới cho cơ thể;
  • Ngăn ngừa sự thiếu hụt năng lượng cơ thể bằng cách dữ trữ một số vitamin, khoáng chất và đường;
  • Điều hoà sự vận chuyển mỡ dự trữ;
  • Giúp ích cho sự tiêu hóa bằng cách tạo ra mật;
  • Kiểm soát việc sản xuất và bài tiết cholesterol;
  • Trung hòa và loại bỏ các chất độc;
  • Chuyển hóa rượu;
  • Kiểm soát và duy trì nồng độ thích hợp của nhiều chất hoá học và nồng độ thuốc trong máu;
  • Lọc máu vàthải các sản phẩm cặn vào trong mật;
  • Duy trì sự cân bằng các nội tiết tố;
  • Có vai trò của một cơ quan tạo máu ở thai nhi;
  • Giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng bằng các tạo ra các yếu tố miễn dịch và loại bỏ các vi khuẩn lưu thông trong máu;
  • Tái tạo mô tổn thương của chính nó; và
  • Dự trữ sắt.

Các bệnh của gan

Có nhiều loại bệnh gan, nhưng trong đó các bệnh quan trọng nhất là:

  • Viêm gan siêu vi;
  • Xơ gan;
  • Các rối loạn về gan ở trẻ em;
  • Sỏi mật;
  • Các rối loạn có liên quan đến rượu; và
  • Ung thư gan.

Các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh gan

  1. Da và mắt thay đổi màu sắc bất thường, trở nên vàng. Dấu hiệu này gọi là hoàng đản và thường là dấu hiệu đầu tiên, đôi khi là dấu hiệu duy nhất của bệnh gan.
  2. Nước tiểu sậm màu.
  3. Phân xám, vàng hoặc bạc màu .
  4. Nôn ói, ói mửa và/hoặc chán ăn.
  5. Ói ra máu, đi cầu phân đen hoặc có máu. Xuất huyết tiêu hóa có thể xuất hiện khi các bệnh gan gây ra tắc nghẽn dòng máu qua gan. Sự chảy máu dẫn đến đi cầu ra máu hay phân đen,
  6. Bụng căng chướng. Bệnh gan có thể gây ra bụng báng do ứ đọng dịch trong khoang ổ bụng.
  7. Ngứa kéo dài và lan rộng.
  8. Thay đổi cân nặng bất thường: trọng lượng cơ thể tăng hoặc giảm quá 5% trong vòng 2 tháng.
  9. Đau bụng.
  10. Các rối loạn giấc ngủ, tâm thần và hôn mê xuất hiện ở bệnh gan nghiêm trọng. Các hậu quả này là do sự ứ đọng các chất độc trong cơ thể gây tổn thương chức năng của não.
  11. Mệt mỏi hoặc giảm khả năng chịu đựng.
  12. Mất sự ham muốn tình dục hay khả năng tình dục.

Nếu có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào ở trên, hãy đến tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn ngay lập tức.

Ngăn ngừa

  • Không uống quá 2 loại thức uống có rượu trong một ngày.
  • Cẩn thận khi dùng chung vài loại thuốc với nhau; đặc biệt, không được trộn lẫn rượu và nhiều thuốc không có kê toa và các thuốc gia truyền với nhau.
  • Tránh uống thuốc khi không cần thiết. Nếu có thể thì cũng cần tránh tiếp xúc với các hoá chất công nghiệp.
  • Duy trì một chế độ ăn đầy đủ và cân đối
  • Đi khám bệnh nếu bạn phát hiện thấy bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào của bệnh gan.

B .Xét nghiệm chức năng gan:

   1.Hai loại men gan chủ yếu đánh giá tình trạng viêm gan:

_ALT (alanin aminotransferase, SGOT): khi có viêm gan ,tế bào gan bị phá hủy thì men này tăng cao , viêm cấp tăng nhiều hơn viêm mãn.

_AST (aspartate aminotransferase, SGPT): tương tự như ALT nhưng kém đặc hiệu hơn vì cũng tăng trong bệnh viêm cơ……

   2. Men GGT

( γ -Glutamyl transpeptidase), Alkaline phosphatase: chủ yếu tăng trong bệnh đường mật, men GGT tăng nhiều trong viêm gan do rượu , do thuốc…

   3.Bilirubin

(sắc tố mật): tăng sẽ gây vàng da trên lâm sàng . Bilirubin gián tiếp tăng khi có tán huyết, bilirubin trực tiếp tăng trong bệnh gan và đường mật

   4.Albumin :

như trên đã trình bày , gan đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp albumin , nên khi gan bị viêm mãn tính , xơ gan thì albumin giảm.

   5.Công thức máu, prothrombin time :

khi gan bệnh nặng một số yếu tố đông máu không được tạo ra gây làm thời gian đông máu kéo dài. Một số thành phần máu: bạch cầu , hồng cầu , tiểu cầu giảm.

   6.Siêu âm bụng

Giữ một vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi diễn tiến của viêm gan. Trong trường hợp viêm gan cấp gan to, khi viêm gan mạn có thay đối cấu trúc của gan.

C. Bệnh Viêm gan:

Có nhiều loại bệnh gan: viêm gan siêu vi , xơ gan , rối loạn chức năng gan ở trẻ em , sỏi mật , bệnh gan do rượu, do chuyển hóa , bệnh gan tự miễn , di truyền, ung thư gan……..Ở nước ta quan trọng và phổ biến là bệnh viêm gan do siêu vi .

  • Viêm gan là gì? Là tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan (từ bình dân hay gọi là sưng gan).
  • Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm gan: do thuốc, rượu , độc chất, chuyển hóa, tự miễn………..quan trọng và phổ biến nhất ở nước ta là do siêu vi. Có nhiều loại siêu vi gay viêm gan : A, B, C, D, E, G, TT virus, Sen virus…Một số siêu vi gây bệnh lý toàn thân gây viêm gan thứ phát: CMV (cytomegalo virus), EBV (Epstein Barr virus) …..Chỉ có virus gây viêm gan B, C, D là có thể gây viêm gan mãn tính và xơ gan. Ở nước ta phổ biến là viêm gan A, B, C; Trong đó, quan trọng là B, C do nguy cơ của xơ gan , ung thư gan.

I.Viêm gan A:

   1.Dịch tễ :

Viêm gan A tìm thấy khắp nơi trên thế giới , nhiều nhất ở Trung-Nam Mỹ, Phi châu , Á châu và Địa trung Hải.Ở các nuớc đang phát triển hầu hết trẻ em dưới 10 tuổi đều nhiễm siêu vi A ở dạng không có triệu chứng lâm sàng. Tỉ lệ nhiễm siêu vi A rất cao ở những nơi đông dân cư , vệ sinh kém: trại lính , nhà tù ………

   2.Lây lan:

Lây chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua thức ăn , nước uống bị nhiễm, qua dịch tiết vùng mũi –họng , khí dung , nước bọt. Các đối tượng đồng tình luyến ái , có thể lây qua tiếp xúc tình dục qua đường miệng-sinh dục-hâu môn.

   3.Lâm sàng :

Đa số trường hợp nhiễm siêu vi A không vàng da , ở trẻ em bệnh thường nhẹ, lành tính và ngắn ngày. Thời gian ủ bệnh từ 10---50 ngày , triệu chứng xuất hiện đầu tiên là sốt , vàng da ,kế đến đau cơ, nhức đầu , mệt mõi, chán ăn , đau hạ sườn phải……bệnh thường tự giới hạn , hiếm khi thành tối cấp hay mãn tính, men ALT thường trở về bình thường sau 2----4 tuần.

   4.Chẩn đoán:

_ Anti HAV-IgM: dương tính trong huyết thanh.

_ HAV trong phân vào cuối giai đoạn ủ bệnh hoặc thời gian đầu có triệu chứng.

_ Trong trường hợp có vàng da: bilirubin , men ALT, AST tăng cao , albumin, chức năng đông máu ít thay đổi.

   5.Điều trị:

Bệnh thường nhẹ, chỉ cần nâng đỡ thể trạng , nghỉ ngơi.

Khẩu phần dinh dưỡng nhiều đạm.

Có thể dùng sinh tố, thuốc chống ói nếu cần.

   6.Phòng ngừa:

_ Bệnh lây qua ăn uống nên vấn đề vệ sinh thực phẩm , vệ sinh cá nhân rất quan trọng

_ Hiện nay đã có vaccin ngừa viêm gan A rất hiệu quả.

II.Viêm gan B:

   1.Dịch tễ :

Khoảng 2 tỷ người trên thế giới có bằng chứng đã hoặc đang nhiễm virus viêm gan B và 350 triệu người mang virus này mãn tính . Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới viêm gan B được xếp hàng thứ 9 trong những nguyên nhân gây tử vong, Việt Nam thuộc vùng dịch tễ lưu hành cao của siêu vi B, tỉ lệ nhiễm từ 15----20%.

_ Khu vực lưu hành cao , tỉ lệ nhiễm : 8---20%: Trung Quốc , Đông Nam Á, Châu Phi

_ Khu vực lưu hành trung bình , tỉ lệ nhiễm : 2---7%: Đông Âu , Cận đông ,Nga

_ Khu vực lưu hành thấp , tỉ lệ nhiễm : 0,1---0,5%: Bắc Mỹ, Úc châu , Tây Aâu

Xem hình virus viêm gan B

   2.Lây lan :

bệnh lây chủ yếu bằng các đường sau:

Lây qua đường máu và các sản phẩm từ máu bị nhiễm virus.

Lây truyền từ mẹ sang con.

Lây do dùng chung đồ với người bệnh như dao cạo râu , bàn chải đánh răng , lây qua vết trầy sướt……..

Lây truyền qua đường sinh dục.

   3.Lâm sàng:

      a. Viêm gan B cấp : Thời gian ủ bệnh khoảng 4----28 tuần , trong số những người nhiễm siêu vi B cấp tính , khoảng 90% không có triệu chứng lâm sàng , 10% có triệu chứng cấp tính : mệt mõi ,sốt , vàng da , chán ăn , đau cơ , đau khớp , đau hạ sườn phải …..gan lách to , phát ban….

      b. Viêm gan mãn:

Tùy theo thời điểm nhiễm siêu vi B mà tỉ lệ rơi vào nhiễm mãn tính khác nhau: nhiễm lúc sinh khoảng 90% sẽ trở thành nhiễm mãn tính (HBsAg dương tính trên 6 tháng), nhiễm lúc trưởng thành , 10% sẽ trở thành nhiễm mãn tính. Trong nhóm nhiễm siêu vi B mãn tính khoảng 20---30% viêm gan mãn tính : có thể vàng da kéo dài , mệt mõi , uể oải , chán , men ALT cao kéo dài , bệnh dễ đưa đến xơ gan ung thư gan.

Xem biểu đồ diễn tiến nhiễm siêu vi viêm gan B

4.Chẩn đoán:

a.Các dấu ấn (markers) của virus viêm gan B:

. HBsAg : kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B

_ Xuất hiện rất sớm trước khi có triệu chứng lâm sàng , tăng cao dần và biến mất 4-8 tuần kể từ khi có triệu chứng. Nếu sau 6 tháng mà vẫn còn HBsAg trong huyết thanh thì có nguy cơ chuyển thành người mang siêu vi B mãn tính.

_ Có một số trường hợp viêm gan B mà HBsAg (-) có thể do nồng độ thấp , phải dùng dấu ấn khác hay kỹ thuật PCR.

.Kháng thể Anti-HBs:

_Xuất hiện muộn 2-16 tuần sau khi không phát hiện HBsAg.

_Xuất hiện AntiHBs là dấu hiệu bệnh đã được cải thiện , nó có tác dụng chống tái nhiễm siêu vi B.

_Khi tiêm vaccin chống siêu vi B thì Anti HBs là kháng thể duy nhất phát hiện được trong máu.

.HBcAg : kháng nguyên lõi, chỉ phát hiện khi sinh thiết gan.

.Kháng thể Anti-HBc :

_Anti-HBc IgM : xuất hiện sớm trong những tuần đầu của bệnh , giúp chẩn đoán giai đoạn bệnh cấp.

_Anti-HBc IgG: xuất hiện muộn hơn nhưng tồn tại rất lâu.

.Kháng nguyên HBeAg:

_Xuất hiện sớm trong giai đoạn tiền vàng da.

_ Sự biến mất của HBeAg và xuất hiện Anti-HBe thường là dấu hiệu của bệnh đang lui dần . Ngược lại trong viêm gan mãn tấn công thường thấy HBeAg(+) chứng tỏ virus đang nhân lên.

_Ở người HBsAg(+) và HBeAg(+) có tỉ lệ lây nhiễm rất cao . Đặc biệt ở phụ nữ có thai HBsAg(+)và HBeAg (+) thì hầu hết con của họ đều bị lây nhiễm.

.Kháng thể Anti-HBe:

_Xuất hiện muộn giai đoạn bình phục

_Khi xuất hiện Anti-HBe là bệnh đang được cải thiện , trừ trường hợp ở dạng virus đột biến.

.HBVDNA : (xét nghiệm về gen của siêu vi B ): nếu dương tính tức siêu vi đang sinh sản, bệnh đang tiến triển , rất dễ lây lan.

HBsAg

AntiHBc

(Total)

AntiHBc

(IgM)

HBeAg

HBVDNA

ALT

AntiHBe

AntiHBs

Viêm gan B cấp

+

+

+

+

+++

tăng

-

-

Viêm gan B mãn(gđ hoạt đông miễn dịch)

+

+

+/-

+

+++++

tăng

-

-

Viêm gan B mãn (gđ dung hòa miễn dịch)

+

+

-

+

+++++

Bình thường

-

-

Tình trạng mang siêu vi không hoạt động

+

+

-

-

+/-

Bình thường

+

-

Viêm gan mãn hoạt động (dạng đột biến)

+

+

-

-

+++++

Tăng

+

-

Giai đoạn hồi phục

-

+

-

-

-

Bình thường

+

+

Viêm gan tối cấp

+

+

+

+/-

+/-

Tăng rất cao

-

-

b.Sinh hóa:

.Cấp:

_ Công thức máu ít thay đổi ,hồng cầu hơi giảm.

_ Men ALT ,AST tăng rất cao .

_ Bilirubin tăng cao.

_ Tỉ lệ prothrombin giảm , nếu giảm nhiều tiên lượng không tốt.

_ Albumin bình thường , giảm trong thể nặng.

.Mãn:

_Men ALT ,AST tăng , không nhiều như cấp (ít khi quá 4 lần bình thường).

_Bilirubin tăng nhe.ï

_Giảm albumin , prothrombin, giảm tiểu cầu.

_Tăng AFP, đây là dấu ấn quan trọng theo dõi diễn tiến xơ gan , ung thư gan.

c.Siêu âm:

_Trong viêm gan cấp cấu trúc gan ít thay đổi trên siêu âm , có thể chỉ to nhẹ

_Trong viêm gan mãn: tùy tình trạng nhẹ đến nặng có thể cấu trúc thô, bờ gan không đều, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, lách to ……..

5.Điều trị:

a.Cấp:

_ Nghỉ ngơi .

_ Ăn nhiều đường , ít mỡ , tăng protid.

_ Uống nhiều nước , ăn nhiều trái cây , hoa quả.

_ Sinh tố: C , B.

b. Mãn:

Chỉ điều trị khi virus sinh sản (HBVDNA dương tính), có sự hủy hoại tế bào gan (men ALT tăng hơn 2 lần bình thường).

Mục tiêu điều trị nhằm hạn chế sự sinh sản của siêu vi , cải thiện tế bào gan , ngăn chặn tiến trình xơ gan ,ung thư gan.

_ Thuốc viên uống : lamivudin 100mg , 1 viên /ngày . Thuốc tiện sử dụng , không tác dụng phụ, tuy nhiên hiệu quả còn hạn chế , điều trị lâu dài khoảng 1 năm ,hiệu quả thành công 30%, có thể tái phát khi ngưng thuốc . Hiện tại cũng có nhiều thuốc hiệu quả hơn như: Adefovir, Entecavir….nhưng chưa có ở VN.

_Thuốc tiêm Interferon : giá thành cao , nhiều tác dụng phụ , hiệu quả cũng chỉ 10----30% , hiện nay có loại Peg-Interferon hiệu quả cao hơn nhưng giá thành rất đắt.

_Thymosin- α 1 : thuốc tiêm , giá thành cao , hiệu quả chỉ tương đối.

  • Hiện nay nhờ kỹ thuật xác định gen của virus , người ta biết được siêu vi B có các type: A, B, C, D, E , F, G, H , các dạng virus đột biến , nhờ đó giúp cho lựa chọn thuốc điều trị thích hợp và tiên lượng . Ví dụ siêu vi type C khó đáp ứng điều trị Interferon , dễ diễn biến ung thư gan.

6.Phòng ngừa:

_Kiểm soát các nguồn lây trong môi trường , gia đình , bệnh viện.

_Hiện nay có vaccin ngừa viêm gan siêu vi B rất hữu hiệu.

PHÁC ÐỒ ÐỀ NGHỊ ÐỂ PHỊNG NGỪA NHIỄM SIÊU VI B

Ðối tượng

Liều vaccin* (mg)

Phác đồ

1. Bé sinh từ mẹ HBsAg và HBeAg (+)

5

Ngay lúc sinh (vaccin + 0,5ml HBIG) tháng thứ 1, 5 và 12

2. Bé sinh từ mẹ HBsAg (-) và HBeAg (-)

2,5

Ngay lúc sinh, tháng thứ 1 và tháng thứ 5

3. Tất cả trẻ em <1 tuổi

2,5

Ngay lúc sinh, tháng thứ 1 và tháng thứ 5

4. Từ 1 đến 17 tuổi

2,5

0, 1, 6 tháng

5. 18 đến 40 tuổi

5

0, 1, 6 tháng

6. Người lớn > 40 tuổi

10

0, 1, 6 tháng

*Vaccin HBVAX II (MSD)

- HBeAg : kháng nguyên e

- HBIG: Immunoglobine miễn dịch đối với siêu vi B

- HBsAg: kháng nguên S

7.Lời khuyên chế độ ăn và lối sống:

_Chế độ ăn: nếu bạn là người lành mang mầm bệnh , bạn nên hạn chế uống rượu . Người nghiện rượu mắc bệnh viêm gan B thường hay bị xơ gan hơn .Chế độ ăn bình thường là thích hợp với hầu hết trường hợp viêm gan siêu vi B .Khi có xơ gan bạn nên giảm muối trong chế độ ăn

_Lối sống: Người bị nhiễm siêu vi B thường lo lắng về nguy cơ truyền bệnh sang những người xung quanh .Mối lo này hoàn toàn hợp lý vì siêi vi B lây nhiễm qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của bệnh nhân , cũng như do quan hệ tình dục .Người mang mầm bệnh cần có biện pháp đề phòng thích hợp , ví dụ nếu bạn đứt tay , hãy lau sạch máu bằng thuốc sát trùng , nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

III. Viêm gan siêu vi C:

Hình virus viêm gan siêu vi C

1.Dịch tễ :

Hiện nay có khoảng 3% dân số thế giới nhiễm siêu vi C và trên 170 triệu người mang virus này mãn tính. Ở VN tỉ lệ nhiễm khoảng 1,8%.

Tỉ lệ mắc ở khu vực châu Á thay đổi 1—5% .Ai cập có tỉ lệ nhiễm cao nhất thế giới 15% . Mỗi năm ở Mỹ có khoảng 8.000----10.000 trường hợp tử vong do viêm gan C.

2.Lây lan:

_ Người nhận máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi C.

_ Dùng chung kim tiêm nhiễm siêu vi C..

_ Nhân viên y tế: do tiếp xúc bệnh phẩm nhiễm siêu vi C trong quá trình làm việc.

_ Đường tình dục.

_ Từ mẹ sang con.

_Nguyên nhân khác: xăm mình , xỏ lỗ tai

_Có trường hợp nhiễm không rõ đường lây

3.Lâm sàng :

Thời gian ủ bệnh từ 2 tuần ---- 6 tháng

a/Cấp:

Phần lớn bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng .Một số khác có biểu hiện mệt mõi , chán ăn , có thể vàng da , nước tiểu đậm màu ……chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm máu.

b/Mãn

Khoảng 85% trường hợp nhiễm siêu vi C chuyển thành mãn tính , nghĩa là không đào thải siêu vi sau 6 tháng . Đặc điểm nổi bật của bệnh viêm gan C mạn tính là sự tiến triển thầm lặng qua nhiều năm , vì thế người bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời . Nhiều trường hợp bệnh chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng nghiêm trọng : xơ gan , báng bụng , dãn mạch máu đường tiêu hóa , có thể vỡ gây chảy máu ồ ạt và tử vong. Có thể có biến chứng ung thư gan. Khi đã xơ gan , khó hồi phục , vì vậy nên điều trị sớm nhằm ngăn ngừa xơ gan , ung thư gan.

Sơ đồ nhiễm viêm gan C

4.Chẩn đoán:

_ Anti HCV: dương tính chứng tỏ có nhiễm siêu vi C , không có ý nghĩa là kháng thể chống lại bệnh.

_ HCVRNA (đây là xét nghiệm về gen của siêu vi ) xuất hiện rất sớm sau khi nhiễm bệnh , xét nghiệm này dương tính chứng tỏ bệnh đang phát triển , virus đang sinh sôi nảy nở.

. Xét nghiệm về gen của siêu vi : xác định được genotype của siêu vi , định lượng được số lượng siêu vi trong máu, nhờ đó gíup định phác đồ điều trị chính xác , tiên lượng được hiệu quả thành công của quá trình điều trị.

.Có nhiều kỹ thuật xác định gen siêu vi C , kỹ thuật LiPA là một trong những kỹ thuật tiến tiến và chính xác.

5.Điều trị:

a/Viêm gan C cấp

Lúc trước các bác sĩ quan niệm chỉ cần cho bệnh nhân nghỉ ngơi , bồi dưỡng , sinh tố, không cần điều trị đặc trị . Tuy nhiên hiện nay nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng , nếu điều trị viêm gan C giai đoạn cấp bằng Interferon đơn độc hay phối hợp Ribavirin trong vòng 6 tháng sẽ loại khỏi virus khỏi cơ thể , đưa gan về bình thường , tỉ lệ thành công 90---95%.

b/Viêm gan C mãn:

Phác đồ điều trị viêm gan C hữu hiệu : Interferon + Ribavirin, hiện nay có loại Interferon thế hệ mới Peg-Interferon hiệu quả hơn Interferon.

Hiệu quả điều trị viêm gan C phụ thuộc rất nhiều yếu tố:

Yếu tố

Thuận lợi

Không thuận lợi

Phái

Nữ

Nam

Tuổi

<40

>40

Thời gian bệnh

ngắn

dài

Xơ gan

không

Cân nặng

<75kg

>75 kg

Nồng độ siêu vi

thấp

cao

Genotype siêu vi

Không phải type 1

Type 1

Nếu dùng phác đồ điều trị Peg-interferon+ Ribavirin cho type 2, 3 chỉ cần điều trị 24 tuần , trong khi cho type 1 phải 48 tuần. Tỉ lệ thành công cho type 1 là 42% trong khi type 2, 3 là 82%.

Biểu đồ dưới đây cho thấy các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả điều trị trong viêm gan C mãn. Qua đó chúng ta thấy việc xác định genotype , định lượng virus đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị viêm gan C.

Biểu đồ điều Peg-interferon+ Ribavirin

6.Phòng ngừa:

Hiện tại chưa có vaccin ngừa viêm gan C , chỉ có thể:

_ Tránh tiếp xúc thân mật với người bệnh hay người mang mầm bệnh.

_ Tránh sử dụng kim tiêm , ống tiêm hay đụng chạm với dụng cụ bén nhọn bị hoại nhiễm.

_ Loại bỏ mẫu máu bị hoại nhiễm.

7.Lời khuyên chế độ ăn và lối sống:

_ Chế độ ăn: Bạn nên hạn chế rượu , bia vì xơ gan dễ xảy ra hơn ở người viêm gan đồng thời nghiện rượu .Bệnh nhân viêm gan C có thể duy trì chế độ ăn lành mạnh bình thường .Khi đã có xơ gan , bác sĩ khuyên nên áp dụng chế độ ăn giảm muối .

_Lối sống: Như đã nêu ở trên , siêu vi viêm gan C lây truyền qua đường máu , nếu bạn bị đứt tay hãy lau sạch bằng dung dịch sát trùng . Mặc dù nguy cơ lây nhiễm thấp , bạn vẫn nên áp dụng phương pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

D.Sỏi mật

Các sỏi mật được hình thành khi cholesterol và/hoặc các sắc tố trong mật tạo thành tinh thể trong túi mật, tạo nên sỏi có kích thước thay đổi từ cỡ viên đá cuội cho đến quả banh gôn. Đôi khi sỏi gây tắc nghẽn ống mật dẫn mật từ túi mật đến tá tràng (là phần đầu tiên của ruột non). Túi mật và ống mật khi đó sẽ cố gắng tống viên sỏi bằng cách co thắt cơ. Điều này có thể gây nên cơn đau bụng dữ dội. Sự tắc nghẽn ống mật do sỏi ngăn cản mật chảy từ túi mật vào ruột. Mật sau đó trở ngược lại vào máu, gây nên triệu chứng hoàng đản.

Sỏi mật thường thấy ở bệnh nhân trên 40 tuổi, đặc biệt ở phụ nữ và những người béo phì.

Mỗi năm có hơn 500.000 người Mỹ trải qua phẩu thuật cắt bỏ túi mật do sỏi mật. Thuốc dùng qua đường uống, ursodiol , là một thay thế an toàn và hiệu quả cho việc giải phẩu túi mật cho nhiều bệnh nhân.

E.Các rối loạn ở gan có liên quan đến rượu

Có 3 loại rối loạn gan riêng lẻ có liên quan đến rượu: gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu và xơ gan do rượu.

I.Gan nhiễm mỡ :

rối loạn ở gan do rượu thường gặp nhất, gây nên tình trạng gan to và khó chịu vùng thượng vị phải. Gan sưng thường mềm ,hoặc đau. Gan nhiễm mỡ nặng có thể gây ra vàng da và sự bất thường tạm thời chức năng gan. Chế độ kiêng rượu có thể mang lại sự hồi phục hoàn toàn mà không để lại hậu quả xơ gan.

II.Viêm gan do rượu :

là một bệnh lý cấp tính thường có các triệu chứng buồn nôn, nôn ói, đau vùng thượng vị phải và giữa rốn, sốt, vàng mắt vàng da, gan to và mềm, và tăng số lượng bạch cầu máu. Thỉnh thoảng viêm gan do rượu có thể không có triệu chứng. Giống như gan nhiễm mỡ, việc điều trị chủ yếu là hỗ trợ và phòng ngừa.

Bất kỳ một bệnh nào do nghiện rượu gây ra đều không thể hồi phục nếu không ngừng uống rượu. Một khi bệnh viêm gan do rượu phát triển sẽ dẫn đến xơ gan nếu còn tiếp tục uống rượu.

III.Xơ gan do rượu :

xuất hiện ở 10% đến 15% những người uống nhiều rượu trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên, có sự thay đổi đáng kể về độ nhạy cảm của mỗi người đối với lượng rượu đượcï uống, và cần có những nghiên cứu xa hơn để biết tại sao có vài người lại dễ bị tổn thương do rượu hơn là những người khác.

F.Xơ gan

Mỗi năm có trên 25.000 người Mỹ chết do xơ gan, đứng hàng thứ 7 về nguyên nhân gây chết ở Mỹ. Thật ra, với độ tuổi từ 25 đến 44 thì nó là nguyên nhân gây chết đứng hàng thứ 4.

Sự xơ hóa của gan là một bệnh thoái trong đó tế bào gan bị tổn thương và bị thay thế bằng sự hình thành những mô sẹo. Mô sẹo phát triển làm lượng máu chảy qua gan bị giảm đi, do đó càng làm nhiều tế bào gan bị chết đi.Chức năng gan bị suy giảm gây ra những rối loạn ruột non-dạ dày, gầy kém, gan lách to, vàng da, ứ đọng dịch ở ổ bụng và các mô khác của cơ thể. Sự tắc nghẽn tuần hoàn ở các tĩnh mạch thường gây ói ra máu.

Bất kỳ tác nhân nào gây ra tổn thương gan nghiêm trọng đều có thể gây xơ gan. Quá nữa số người chết do xơ gan là do nghiện rượu, viêm gan và do các loại vi-rút khác. Một vài hóa chất, nhiều chất độc, quá nhiều sắt hay đồng, tác dụng phụ nghiêm trọng với thuốc, và tắc nghẽn ống mật chủ cũng có thể gây ra xơ gan.

Một vài loại xơ gan có thể điều trị, nhưng rất hiếm. Tại thời điểm này, việc điều trị chủ yếu là hổ trợ và có thể bao gồm một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, lợi tiểu, các vitamin kiêng rượu. Tuy nhiên, có nhiều tiến triển trong việc kiểm soát các biến chứng chính của xơ gan như dịch lưu lại trong ổ bụng, chảy máu và những thay đổi chức năng tâm thần.

G.Những rối loạn về gan ở trẻ em

Cứ khoảng một ngàn trẻ em Mỹ có mười trẻ-từ lúc sơ sinh đến lúc tuổi thanh niên-bị mắc bệnh gan bẩm sinh hay mắc phải, và tronf số đó có hằng trăm người chết mỗi năm. Tỉ lệ mắc của bệnh gan được ước tính cao tới 1 / 2.500 trẻ sơ sinh còn sống. Có hơn 100 loại khác nhau của bệnh gan ghi nhận được ở trẻ mới sinh và trẻ em. Bệnh phổ biến hơn trong nhóm bệnh về gan nói trên là:

Hẹp đường mật. Sự khiếm khuyết hoặc kích thước không đủ lớn của ống mật chủ từ gan đến ruột. Số trẻ đến ghép gan do hẹp đường mật nhiều hơn do bất kỳ một bệnh gan đơn độc nào khác.

Viêm gan mãn tính thể hoạt động thường tiêu hủy và thay thế tế bào gan bình thường bằng mô sẹo qua một diễn tiến không rõ, diễn tiến này giống như một sự dị ứng của trẻ đối với mô gan của chúng.

Galacto-huyết là một bệnh di truyền trong đó một thiếu hụt một men cần cho sự tiêu hóa sữa, gây nên ứ đọng đường sữa trong gan và các cơ quan khác, dẫn đến xơ gan, đục thuỷ tinh thể và tổn thương não. Trẻ sẽ chết trừ khi cho nuôi trẻ với một khẩu phần nhân tạo đặc biệt không có sữa.

Trong b

Trước khi uống rượu

Ăn lòng trắng trứng gà: Đây là loại giàu loại protein khiến cồn trong rượu bị kết tủa lại, từ đó giảm bớt lượng cồn hấp thu vào máu. Mặt khác, nó còn giúp tránh hiện tượng bỏng niêm mạc dạ dày do rượu.

Đậu xanh giải rượu rất tốt

Đậu xanh: Đây là loại thực phẩm có khả năng phân hủy các loại độc tố rất tốt. Theo Đông y, đậu xanh bồi bổ nguyên khí, làm mát gan, giải được nhiều thứ độc. Ngoài việc ăn hạt thì uống nước vỏ đỗ cũng rất tốt. 

Uống chút giấm, nước chanh đường hay ăn các loại quả chua cũng rất tốt: Các acid  này có thể giúp trung hòa một số alcohol trong rượu.

Trong khi uống rượu

Trong một bữa nhậu, ngoài các món đồ nhắm thì bạn nên ăn kèm một số món ăn giúp giải độc chất cồn như: củ cải trắng, rau cải trắng, rau cần, cam quýt, dâu tây, chanh, các món ăn chế biến từ đậu xanh (như nhân bánh chưng)...

Sau khi uống rượu

Bạn tự mình phục vụ hoặc nếu quá say thì nhờ người nhà áp dụng một số biện pháp đơn giản sau:

- Rau cần một nắm rửa sạch, giã nát rồi vắt lấy nước cốt, pha chút đường uống từ từ. Nước cốt rau cần không chỉ làm tỉnh rượu mà còn giúp người say không bị đau đầu váng vất sau khi tỉnh.

- Lá dong (dùng để gói bánh chưng) 100 - 200g, rửa thật sạch, giã nát vắt lấy nước cốt pha đường uống.

- Trà búp 5g, quất khô 16g (có thể dùng mứt quất hoặc quất tươi), thái vụn. 2 thứ hãm với nước sôi để uống.

- Pha một cốc bột sắn dây có vắt chanh để uống, một lúc sau sẽ tỉnh táo trở lại. Sắn dây cũng giúp cho gan tham gia đào thải độc tố.

- Giã nát một ít củ cải trắng, vắt lấy nước cốt, thêm chút đường rồi uống làm nhiều lần.

- Ăn các sản phẩm chế từ đậu xanh (khoảng 10 - 30g), hoặc giã  đậu xanh cả vỏ 5 - 10g, pha đường uống.

- Giấm ăn 60g, đường 15g, gừng 3 lát, giã nát, hòa lẫn với nhau rồi uống.

- Chanh tươi vắt nước uống hoặc thái lát mỏng hoặc ăn cả quả càng tốt.

- Vỏ quýt phơi khô 30g (để lâu năm càng tốt), có thể sao thơm; mơ chua 2 quả, cho vào khoảng 300ml nước, sắc nhỏ lửa 20 - 30 phút rồi uống, thêm chút nước gừng hoặc trà gừng thì càng tốt.

Cách dùng thuốc tây y:

- Nhức đầu: có thể Paracetamol làm giảm cơn nhức đầu thoáng qua của bạn

- Mệt mỏi cơ: Vitamin B1, B6, Vitamin C liều cao.

- Hạn chế hại gan do rượu: URSA-S

Các biện pháp trên chỉ có tác dụng giảm bớt phần nào tác hại của rượu. Điều quan trọng nhất là bạn cần biết làm chủ bản thân để không uống quá nhiều.

(Theo Giadinh)

Gan bị nhiễm mỡ khi mỡ , chủ yếu là triglyceride (TG ) vượt quá 5% trọng lượng gan. Theo một định nghĩa khác, gan bị nhiễm mỡ khi mỡ tích tụ trong hơn quá nửa tổng số tế bào gan. Gan nhiễm mỡ là từ mô tả trạng thái nhu mô gan và biểu hiện sự đáp ứng của gan đối với các tác nhân độc hại gan.
Cơ chế bệnh lý

Cho tới hiện nay, người ta cũng chưa hiểu rõ cơ chế bệnh lý của bệnh gan nhiễm mỡ.

Trên lý thuyết , có 4 cơ chế gây ra gan nhiễm mỡ :
  • Gia tăng hấp thụ chất béo từ thực phẩm tại hồi tràng. Chất béo trong micell được đưa vào máu và từ đó vào gan. Ngoài ra, acid béo tự do được huy động từ mô mỡ bởi rượu, corticosteroid và trên bệnh  nhân bệnh đái tháo đường.
  • Gia tăng lượng acid béo tự do , do tăng tổng hợp và giảm chuyển hóa do oxy hóa trong ty lạp thể;
  • Giảm tống xuất TG từ tế bào gan
  • Tăng lưu lượng carbohydrate trong gan, carbohydrate này được chuyển hóa thành acid béo tự do (Ví dụ : bệnh đái tháo đường).
Định bệnh gan nhiễm mỡ thường bằng siêu âm. Trên siêu âm, gan có thể cho phản âm dầy hoặc phản âm bình thường. Lách và tĩnh mạch gan cũng bình thường.
Trường hợp khó định bệnh , chụp hình cắt lớp được dùng đến và cho hình ảnh  ít  đậm hơn bình thưòng, hình ảnh này không đậm bằng hình ảnh cuả lách và thận.

Gần đây, cộng hưởng tư hạt nhân (MRI) giúp phát hiện và định lượng sự thâm nhiễm chất béo ở gan.

Phương pháp định bệnh tốt nhất là sinh thiết gan. Sinh thiết gan đặc biệt hữu ích khi  có nhiều yếu tố làm xấu đi tiên lượng bệnh gan nhiễm mỡ (suy tim, nhiễm virus, điều trị lâu dài với thuốc ) hoặc khi cả triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm sinh học đều chỉ rõ có gia tăng viêm nhiễm hoặc phát triển xơ gan.

Điều trị

Tiên lượng bệnh gan nhiễm mỡ thường tốt , trong đa số trường hợp bệnh không tiến triển và không dẫn đến xơ gan. Tuy nhiên, trong bệnh gan nhiễm mỡ tối cấp và trong nghiện rượu kinh niên, tiện lượng rất xấu.

Nguyên tắc căn bản cuả điều trị gan nhiễm mỡ là loại bỏ hay giảm thiểu nguyên nhân gây bệnh, hoặc điều trị đúng cách bệnh đã gây ra gan nhiễm mỡ.

Điều trị bao gồm:
  • Dinh dưỡng cân bằng đối với bệnh nhân béo phì và tăng lipid máu,
  • Ngưng uống rượu
  • Ngưng dùng thuốc độc haị gan
  • Ổn định đường huyết trong đái tháo đường
Dinh dưỡng phải được thiết lập riêng rẽ cho từng bệnh nhân, và bao gồm  ít  lipid  no  và cho nhiều calo, lượng thích hợp protein, sinh tố đặc biệt là nhóm B. Cung cấp cho bệnh nhân các acid amin cần thiết như choline và methionine là điều rất quan trọng.

Vài tác giả khuyên nên thêm acít béo no  (như dầu dừa) vào khẩu phần bệnh nhân bệnh gan nhiễm mỡ do rượu.

Vài tác giả khác khuyên điều trị gan nhiễm mỡ bằng phospholipid cần thiết (EPL). Nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ điều trị với EPL làm giảm tích tụ mỡ trong gan và bình thường hóa các thông số sinh hóa bất thường của gan. Nhiều chứng cớ chứng thực EPL bảo vệ màng tế bào gan bằng cách giảm peroxy hóa lipid, cải thiện hoạt động enzyme của màng tế bào, giảm tích tụ mỡ và giảm tổn thương hoại tử tế bào gan cùng lúc tăng khả năng hồi sinh tế bào.

Có vài nghiên cứu cho thấy Acid Ursodeoxycholic (biệt dược là URSA-S) cũng tham gia đào thải các độc chất sinh ra trong quá trình chuyển hoá rượu tại gan, giúp giảm mạnh tình trạng viêm gan do rượu, giảm sự huỷ hoại tế bào gan do rượu, giảm men gan trong gan nhiễm mỡ do rượu. Do vậy  Acid Ursodeoxycholic thường được sử dụng cho các bệnh nhân có gan nhiễm mỡ để phòng ngừa tiến triển đến xơ gan.
 
BSCK1 Phạm Xuân Hậu
www.ganmat.com
Nhiều người hay nói: mấy người hay nhậu thì nhậu chẳng vì lý do gì! Có thể vui, có thể buồn, cũng có thể không vui cũng chẳng buồn, vẫn cứ nhậu. Ấy là muốn nói đến những đối tượng thích nhậu, hay ít nhất cũng vì “ghiền” cái không khí tưng bừng của những phố nhậu về đêm, cùng đàm đạo với các “chiến hữu”. Tuy nhiên bên cạnh đó, có nhiều đối tượng dù chẳng mặn mà lắm với những “chiêu trò” ăn nhậu, mà chiều chiều sau giờ tan tầm vẫn phải xách cặp táp tiến thẳng đến điểm hẹn để nâng cốc. Họ là những người kinh doanh, những viên chức, người có địa vị, có tiếng tăm và dĩ nhiên cũng có tiền. Có bao nhiêu người trong số ấy là người trụ cột của gia đình? Không rõ con số cụ thể, nhưng chắc hẳn sẽ rất nhiều. Có lẽ không ít trong số quí ông ấy, tuy ngồi bên bàn nhậu mà bụng cứ đánh lô tô, chỉ mong mau tàn cuộc để trở về nhà, được ăn bữa cơm dẻo canh nóng do vợ nấu, được nghỉ ngơi, trò chuyện và chơi đùa cùng con cái.

“Vậy thì đừng nhậu!”. Hẳn nhiều người đã thốt ra câu ấy. Nhưng nếu có sự lựa chọn khác, có lẽ các ông vừa được kể trên chẳng đợi phải nhắc nhở. Họ phải nâng lên hạ xuống hết ly này đến ly khác, chung qui cũng vì những mối “quan hệ xã giao”. Nói cách khác, thời buổi kinh tế thị trường, “rượu vào chữ ký dễ ra”. Ai cũng biết có nhiều hợp đồng, nhiều bản thỏa thuận làm ăn rất “ngắc ngứ” trong văn phòng, nhưng lại “xuôi chèo mát mái” nơi bàn nhậu. Nhiều lúc nhậu chẳng có gì vui, cũng chẳng vì thích, mà đơn giản, nhậu sẽ giúp đạt được mục đích trong làm ăn hơn. Với họ, nhậu là để kiếm tiền cho gia đình, lo cho tương lai con cái. Và vì thế, dù không thích, vẫn phải nhậu. Anh Khoa – giám đốc một công ty vận tải hàng hải cho biết “sau mỗi lần uống, sáng thức dậy đầu như búa bổ, mệt mỏi rã rời, chẳng muốn động tay động chân, ăn uống lại càng không thiết. Cuối cùng thì cơ thể ngày càng suy yếu nhưng cái bụng cứ trướng ra. Thiệt chán, nhưng không đi gặp khách cũng không được, rồi lại phải đi”.


Hiện nay rất nhiều người biết uống bia rượu nhiều sẽ có triệu chứng buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn, tăng men gan… đặc biệt là bia rượu sẽ làm cho tế bào gan bị tổn thương, uống càng nhiều bia rượu càng làm nhiều tế bào gan bị chết đi, lâu ngày sẽ dẫn đến xơ gan. Mà xơ gan là nguyên nhân chính của ung thư gan. Thế nhưng, vì lý do nào đó, thường thì do chủ quan, ỷ lại vào sức khỏe hiện tại… mà rất ít người có được ý thức, hay chí ít cũng chịu lắng nghe người khác khuyên bảo mà bảo vệ sức khỏe. Anh Vinh – giám đốc một hệ thống phân phối điện thoại di động tâm sự: “Nhiều buổi sáng thức dậy, cảm giác mệt mỏi, uể oải kinh khủng. Và rồi lại bỏ ăn. Mình cảm thấy đuối hết sức. Đã vậy còn bị bà xã cằn nhằn không biết giữ gìn sức khỏe, lỡ ngã bệnh thì vợ con ai lo? Nghe vợ nói mình thật sự rất áy náy. Tháng trước cậu trợ lý tặng cho hộp thuốc, nói là chơi trong hội đánh banh nghe mấy ông bạn  mách cho xài thuốc có chứa UDCA, nghe đâu là thành phần chính của mật gấu uống vào sẽ giúp bảo vệ gan, sáng hôm sau sẽ ít bị mệt, đi làm bình thường. Mình cũng uống theo và thấy đúng thật”.


Anh Tùng – chủ một nhà hàng nhỏ trên đường Lý Văn Phức quận 1 kể: “Vì xã giao với khách nên hầu như đêm nào cũng phải nâng ly, mệt lắm chứ, nhất là sáng hôm sau, bải hoải, bỏ ăn, đầu óc vất váng. Mình phải trữ thuốc có thành phần mật gấu để bảo vệ sức khỏe, chứ nếu không thì chịu không nổi”.


Xem ra giải pháp trữ sẵn thuốc có chứa UDCA trong tủ thuốc gia đình để sử dụng ngay khi cần thiết, là cách giải quyết nhẹ nhàng, đơn giản cho các ông đảm đương công việc có gắn với bia rượu. Chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân mình cũng chính là các ông đang chăm sóc cho cả gia đình, vợ con. Đừng để đến lúc nghe bác sĩ kết luận “chúng tôi rất lấy làm tiếc cho tình trạng lá gan của anh”, thì e rằng đã quá muộn!


Ganmat.com

Theo Dược sĩ, Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi cho biết mật gấu có tính sát trùng đặc biệt, tính giảm đau tốt, tính tăng sinh mạnh và tính phá ứ tiểu viêm, làm tan huyết đông và mỡ. Mật gấu có tác dụng chữa những bệnh sau:

- Đau dạ dày do nhiễm khuẩn, uất hỏa, ăn nhiều đồ cay nóng, chứ không dùng trong trường hợp đau dạ dày do tì vị hư hàn (đại tiện lỏng, lạnh bụng…). Tương tự như vậy mật gấu còn chữa rất có hiệu quả chứng viêm đại tràng mãn có táo bón hay không.

- Trường hợp bị sỏi mật, mật gấu chỉ có tác dụng với loại sỏi mật dạng cholesterol, vì chất axit urso-desoxycholic thường ở dạng muối natri và canxi.

- Mật gấu chữa chấn thương rất tốt, giúp các mô bị giập nát nhanh chóng phục hồi, nó có tác dụng làm tan máu tụ để khôi phục sự tuần hoàn máu đến vết thương, làm vết thương chóng lành.

Theo Bác sĩ Bùi Quốc Trị – Viện Y học Cổ truyền dân tộc quân đội thì thực tế và kinh nghiệm mật gấu có thể điều trị các chứng sau:

  • Viêm gan mãn tính, xơ gan (do hậu quả nhiễm độc hóa chất, rượu, viêm gan virut).
  • Điều trị cao huyết áp vô căn (80% cao huyết áp là chưa rõ nguyên nhân).
  • Điều trị tai biến mạch máu não (do tắc mạch, nghẽn mạch).
  • Điều trị viêm khớp dạng thấp (có sưng nóng đỏ, đau ở thể nhiệt), thoái hóa và gai đốt cột sống.
  • Điều trị đau mắt đỏ mãn tính.
  • Làm nhanh liền xương, khớp do chấn thương, sau mổ (viêm khớp không phải do lao), chống lão suy và bạc, rụng tóc.
  • Nâng cao thể trạng và khả năng tình dục.

Những năm gần đây ở Trung Quốc đã nghiên cứu mật gấu dùng trong chữa trị ung thư có những kết quả nhất định. Theo sách “Kháng u trung duợc thảo sắc đồ phổ” của tác giả Lý Quốc Đức chủ biên thì mật gấu qua thực nghiệm, có khả năng ức chế tế bào ung thư đường tiêu hóa, ung thư gan và ung thư bì phu (da).

Liều dùng: Chia làm 3 giai đoạn
  • Giai đoạn đầu: Tấn công diệt mầm bệnh, dùng liều cao, 2 cc mật gấu tươi pha với 250 cc rượu hoặc mật ong, uống từ 5 – 7 ngày là hết. Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ. Tiếp tục uống vài lần cho đến khi bệnh thuyên giảm.
  • Giai đoạn 2: Bệnh đã thuyên giảm, để ức chế tiêu diệt mầm bệnh, pha 2 cc mật gấu với 500cc rượu hoặc mật ong, uống từ 10 – 15 ngày thì hết. Giai đoạn này kéo dài từ 1 – 2 tháng.
  • Giai đoạn 3: 1 cc mật gấu pha loãng 500 cc rượu hoặc mật ong, uống trong 1 tháng thì hết. Giai đoạn này để ngăn ngừa bệnh tái phát.
Với người kỵ rượu thì chỉ pha với mật ong. Uống xa bữa ăn, vào lúc mát người, không ra mồ hôi: (trước khi đi ngủ và sáng sớm).

Theo lương y Hạnh Lâm cho biết những trường hợp sau đây không được dùng mật gấu: phụ nữ mang thai, người bị tắc mật hoàn toàn, chức năng gan suy giảm nghiêm trọng, viêm tụy, người bị dương hư, hư hàn: ra nhiều mồ hôi lạnh, tay chân lạnh, đại tiện phân lỏng, đầy bụng khó tiêu, sợ lạnh.


Hiện tại trên thị trường có chế phẩm URSA-C được tổng hợp từ công thức tinh chất của mật gấu. Như vậy sử dụng URSA-C sẽ an tâm về tính ổn định và đồng nhất chất lượng qua từng đợt thuốc, không giống như lấy mật trực tiếp từ gấu nuôi không đảm bảo chất lượng. Các bạn sẽ tìm thấy dễ dàng URSA-C tại các nhà thuốc trên toàn quốc.

GanMat.com sưu tầm

Chế độ ăn Giảm mỡ là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất mà bệnh nhân gan mật cần nhớ khi lập thực đơn. Việc ăn nhiều mỡ sẽ làm hại các tế bào gan và dần dần giết chết chúng.

Khi tế bào gan bị tổn thương, ở bào tương của nó lập tức xuất hiện những hạt mỡ. Đó là hiện tượng thoái hóa mỡ của tế bào gan (hay còn gọi là Gan nhiễm mỡ). Hạt mỡ lớn dần, có thể bóp nghẹt nhân tế bào và giết chết tế bào đó. Vì vậy, bệnh nhân gan mật cần phải giảm mỡ trong chế độ ăn.

Các nguyên tắc khác:

Tăng glucid: Bình thường, một phần glucid của chế độ ăn được dự trữ trong gan dưới dạng glucogen. Chức năng chuyển hóa và dự trữ glucogen rất quan trọng vì nó làm cho gan phát huy được vai trò giải độc. Khi gan bị tổn thương, dự trữ glucogen giảm nên bệnh nhân phải tăng glucid trong chế độ ăn để tăng dự trữ glucogen, giảm sự xâm nhập mỡ vào gan.

Tăng protid: Protid được cung cấp nhiều sẽ làm tăng khả năng tái tạo tế bào của cơ thể, trong đó có tế bào gan đang bị tổn thương vì bệnh. Gan có chức năng tăng lượng prrotid của huyết tương và là nơi tập trung protid trước khi nó được phân bổ đi khắp cơ thể. Khi gan bị bệnh mạn tính, nhất là xơ gan, hiện tượng giảm protid máu thường xảy ra. Do vậy, việc giảm protid ở chế độ ăn sẽ gây bất lợi.

Tăng cường sữa: Methionin (acid amin có nhiều trong đạm của sữa) giúp tổng hợp cholin, một chất chống lại sự xâm nhập mỡ vào tế bào gan bằng cách chuyển lipid từ gan đến tổ chức mỡ dưới da. Do đó, chế độ ăn có nhiều sữa giúp bảo vệ gan rất tốt.

Tăng các loại vitamin: Ngoài chức năng chuyển hóa protid, gan còn có chức năng quan trọng là đồng hóa các vitamin tan trong dầu (A, D, E, K). Khi gan bị bệnh, cơ thể thiếu các vitamin này. Đặc biệt, việc thiếu vitamin K có thể gây chảy máu do giảm tỷ lệ prothrombin huyết thanh.

Đủ nước, giảm muối nếu có cổ chướng: Nên uống nước quả, nước rau luộc, nước ép trái cây cùng với chế độ ăn mềm, lỏng. Nếu uống nhiều nước và ăn mặn sẽ làm mức độ cổ chướng tăng nhiều hơn.

Bỏ các thức uống có tính kích thích, gây độc cho gan: Không dùng rượu, bia, cà phê, chè đặc. Nên dùng các thức uống, đồ ăn có tính lợi mật, nhuận gan như: chè nhân trần, artiso, hạt dành dành, nghệ, lá gai, lá chanh...

TS Nguyễn Thị Lâm, Sức Khỏe & Đời Sống

GNM hầu hết không phải là bệnh lý của gan mà chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan mà thôi. Vì thế điều trị GNM chủ yếu là điều trị các nguyên nhân cơ bản gây bệnh, cụ thể:
            a. Nếu bị dư cân – béo phì: áp dụng chế độ ăn hợp lý và chế độ tập luyện vận động để giảm cân.
            b. Đối với các bệnh lý gan có liên quan đến uống rượu: ngưng uống rượu.
            c. Ngưng ngay những thuốc có khả năng gây độc cho gan và thay thế bằng những thuốc an toàn theo hướng dẫn của bác sĩ.
            d. Các bệnh rối loạn chuyển hóa (như tiểu đường…): khống chế lượng đường trong máu luôn ở mức độ bình thường.
            e. Viêm gan siêu vi: kiểm soát tình trạng viêm và những diễn tiến bất lợi dẫn đến xơ gan.

            Chú ý rằng, ngoài việc áp dụng một chế độ thuốc men để nhằm đào thải bớt sự lắng đọng mỡ quá mức trong cơ thể cũng như để khống chế diễn tiến bất lợi của các bệnh lý cơ bản là nguyên nhân gây nhiễm mỡ gan, ở góc độ dinh dưỡng, có thể tự giảm thiểu tình trạng lắng đọng mỡ ở gan qua:

GNM phải ăn uống ra sao?

- Giảm cân nếu có thừa cân, béo phì (hạn chế năng lượng dư thừa).

- Giảm ăn thực phẩm giàu cholesterol như các loại đồ lòng, phủ tạng, da…động vật, lòng đỏ trứng…

 - Hạn chế chất béo: ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá).

- Ăn chất đạm vừa phải đúng với khả năng của gan.

            - Một số thức ăn được xem là “thuốc” có tác dụng “giảm mỡ” tốt như: dầu đậu nành, đậu hà lan, cà chua tươi chín, ớt vàng, rau ngót, rau cần tây, diếp cá, tỏi, bắp chuối (bông chuối)…; trái cây nên lưu ý chanh, cam, quýt, bưởi, táo chín… trà xanh, hoa hòe…

- Tăng cường lượng rau, trái cây (mỗi ngày, mỗi người nên ăn tối thiểu 300g rau xanh, 200g quả chín tươi).

 - Ngưng uống rượu.

Vận động như thế nào? Cần tăng vận động, tập thể dục thường xuyên trên 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần.

Một số thực phẩm khuyên dùng cho người bị GNM:

            1. Nhộng tằm:

            Có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.

            2. Nấm hương:

            Chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu và tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.

            3. Lá trà:

            Có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hồi thành mạch, làm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.

            4. Lá sen:

            Giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen đượcc dùng pha nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.

            5. Bắp trái, rau cần:

            Có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Những thực phẩm này đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân GNM.

            6. Các loại rau trái tươi khác:

            Cải xanh, cải cúc, rau muống… có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí đao, mướp, dưa gang, dưa chuột… thanh nhiệt, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu đậu phộng, dầu mè, dầu đậu nành… chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; Các thức ăn chế biến từ đậu nành, đậu xanh, đậu đen…

            7. Thực phẩm cần kiêng:

            Đồ ăn quá béo bổ như mỡ động vật, lòng đỏ trứng, não và gan gia súc, bơ… Các thứ quá cay và nóng như gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc…

Làm sao để phòng ngừa GNM?

Để tránh bị GNM, chu’ng ta cần tuân thủ theo một số hướng dẫn chung sau:

- Có chế độ ăn hợp lý: ăn đa dạng, ăn chừng mực, ăn thực phẩm gần với thiên nhiên nhất.

 - Vận động thể lực đều đặn, sống năng động nhằm duy trì cân nặng lý tưởng (nên biết chỉ số BMI của bản thân và BMI lý tưởng phù hợp để tự theo dõi tình trạng dư cân của bản thân).

 - Hạn chế tối đa rượu bia.

 - Cần tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc để tránh những thuốc gây độc cho gan.

 - Kiểm tra đường huyết, cholesterol và triglyceride máu định kỳ mỗi 6 tháng (hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi cá nhân).

Các phương tiện nào có thể giúp chẩn đoán được GNM?

- Qua siêu âm hoặc chụp cắt lớp (CT scan) đều có thể chẩn đoán được GNM. Trước đây các nhà chuyên môn cho rằng để có chẩn đoán chính xác nhất thì phải áp dụng sinh thiết gan.

- Tuy nhiên hiện nay, việc áp dụng sinh thiết để chẩn đoán GNM không còn cần thiết. Khi mà các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ngày càng tốt hơn (siêu âm, CT scan…) và việc xét nghiệm máu (cholesterol, triglyceride máu, các men gan) để kiểm tra sức khỏe định kỳ đã trở nên dễ dàng do người dân ý thức nhiều về việc bảo vệ sức khỏe… đủ để phát hiện cơ thể có bị GNM hay không.

Đến nay, vẫn chưa có một phác đồ cụ thể và thống nhất để điều trị VGMKDR. Mặc dù việc làm giảm các yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng mỡ máu, đái tháo đường kiểm soát kém … đã được đề cập nhưng vẫn chưa có một liệu pháp thực sự hiệu quả. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các biện pháp khác nhau, kể cả dùng thuốc hoặc không dùng thuốc. Hiện tại, có 4 hướng chính thường áp dụng ở giai đoạn cấp của VGMKDR, gồm: thay đổi lối sống, giảm lipid máu, tăng nhạy cảm insulin và dùng các tác nhân chống oxi hóa.

Thay đổi lối sống: bao gồm một chế vận động thể lực thích hợp, khẩu phần ăn hợp lý và hạn chế các yếu tố có hại như rượu, bia…

Việc giảm cân là hết sức cần thiết, nhưng cần từ từ, vì giảm cân nhanh có thể làm cho bệnh gan nặng lên. Người ta cho rằng mức độ giảm cân không nên quá 1,6kg/tuần ở người lớn. Giảm cân và tăng hoạt động thể lực có thể giúp duy trì sự cải thiện về men gan, mô bệnh học của gan và mức insulin huyết tương cũng như chất lượng sống. Kết quả này được minh chứng qua một nghiên cứu trên 799 bệnh nhân VGMKDR khi so sánh các chỉ số sinh hoá phản ánh tình trạng viêm gan, đề kháng insulin giữa nhóm có và không tập aerobic. Sự cải thiện về tình trạng nhiễm mỡ (nhưng không có viêm và xơ hóa) cùng với sự giảm các yếu tố điều hòa tổng hợp fibrinogen của gan đã được quan sát trong một năm ở những ca phẫu thuật điều trị béo phì. Trong một báo cáo khác, mức độ nhiễm mỡ và đề kháng insulin ban đầu đã giảm sau khi phẫu thuật chữa béo phì một năm [14].

Sử dụng thuốc hạ lipid máu: Việc sử dụng statin cũng như fibrate ở bệnh nhân VGMKDR có 2 mục tiêu là: vừa kiểm soát sự tăng lipid máu (yếu tố liên quan chặt chẽ với VGMKDR) vừa điều trị VGMKDR.

Các statin, gồm cả pravastatin và atorvastatin đều có thể dùng để điều trị tăng lipid máu ở đối tượng bị bệnh gan mạn tính với nguy cơ nhiễm độc gan ở mức tối thiểu [20]. Các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy tính an toàn của việc sử dụng statin ở những người bị các bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (BGNMKDR).

Vào năm 2008, một nhóm tác giả ở Tây Ban Nha đã công bố kết quả nghiên cứu về vai trò của fibrate trong điều trị bệnh VGMKDR (sau 48 tuần) cho thấy: bên cạnh tác dụng hạ lipid máu thì men gan, mức đề kháng insulin đều giảm có ý nghĩa. Và mặt sinh bệnh học, lipid tích luỹ trong mô gan chủ yếu là Triglycerid, nên chú ý sử dụng fibrate.

Việc kết hợp statin và fibrate cũng cho thấy khả năng dung nạp tốt và hiệu quả.

 Các thuốc làm tăng nhạy cảm insulin và một số thuốc khác:

Metformin: Một thử nghiệm có kiểm soát ở 36 bệnh nhân VGMKDR được phân ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm có hoặc không dùng metformin (850 mg x 2 lần mỗi ngày) kết hợp chế độ ăn hạn chế lipid và calo trong 6 tháng. Nồng độ men gan và nồng độ insulin, peptid C trung bình trong huyết thanh đã giảm một cách có ý nghĩa ở cả 2 nhóm, nhưng ưu thế hơn ở nhóm có dùng metformin. Sự cải thiện trong viêm gan hoại tử cũng đã được ghi nhận ở nhóm bệnh nhân có dùng metformin nhưng kết quả không có ý nghĩa thống kê. Theo một thử nghiêm lâm sàng ngẫu nhiên, khả năng bình thường hóa các men gan của metformin tốt hơn so với giảm cân kết hợp vitamin E.

Pioglitazon: Nhiều nghiên cứu đã đánh giá vai trò của pioglitazon khi sử dụng đơn thuần hay phối hợp với tiết thực hoặc vitamin E ở bệnh nhân VGMKDR. Những nghiên cứu này đã cho thấy sự cải thiện về mặt sinh hóa cũng như mô bệnh học nhờ pioglitazon nhưng sự cải thiện này dường như ngược lại do gián đoạn. Một nghiên cứu thực hiện trên 55 bệnh nhân bị rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường týp 2 và VGMKDR, các đối tượng này được phân ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm: dùng chế độ ăn ít calo kết hợp 45mg pioglitazone mỗi ngày hoặc dùng giả dược trong 6 tháng. Pioglitazon liên quan đến sự giảm có ý nghĩa mức các men gan, tăng sự nhạy cảm insulin ở gan và sự cải thiện về mô bệnh học. Bệnh nhân sử dụng pioglitazon có thể bị mệt mỏi hoặc phù nhẹ chi dưới nhưng nhìn chung sự dung nạp điều trị là tốt.

Một liệu trình điều trị dài hạn với thiazolidinedions có thể sẽ đạt được lợi ích quan trọng trên lâm sàng nhưng nó lại làm gia tăng nguy cơ bệnh tim. Hơn nữa, việc điều trị này có thể liên đới đến sự tăng cân (do đó làm nặng thêm tình trạng VGMKDR). Do vậy, cần cân nhắc kỹ lưỡng hơn giữa nguy cơ và lợi ích.

Rosiglitazon: Hiệu quả của rosiglitazon đã được đánh giá trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm chứng trên 63 bệnh nhân VGMKDR giữa nhóm dùng giả dược và rosiglitazon trong 1 năm. Những bệnh nhân dùng rosiglitazon đã có sự cải thiện đáng kể trong mức độ thoái hóa mỡ. Tuy nhiên không có sự cải thiện ở những tổn thương mô bệnh học khác, bao gồm cả sự xơ hóa. Tác dụng phụ chủ yếu là lên cân và sưng đau 2 chân. Nhiều lợi ích nổi bật hơn đã được ghi nhận trong một nghiên cứu không kiểm chứng trước đây [4].

Betain:  Betain là một thành phần trong chu trình chuyển hóa methionin, có hiệu quả chống lại sự thoái hóa mỡ ở các mẫu động vật thí nghiệm. Vai trò nổi bật của nó trong điều trị VGMKDR đã được đề cập trong một nghiên cứu ban đầu ở 10 bệnh nhân. Một năm điều trị giúp cải thiện đáng kể về mức men gan và mô học gan. Những kết quả này cần được khẳng định thêm bằng các thử nghiệm có kiểm chứng tiếp theo.

Acid Ursodeoxycholic (UDCA): Một tác dụng đáng chú ý của UDCA đã được nêu ra trong một nghiên cứu ban đầu ở 40 bệnh nhân. Tuy nhiên, kết quả của một thử nghiệm có kiểm chứng lớn hơn lại không cho thấy lợi ích nào. Một nghiên cứu mới đây lại cho rằng có sự cải thiện về mặt sinh hóa ở những bệnh nhân dùng kết hợp UDCA và vitamin E [9].

Losartan: Angiotensin II liên quan tới sinh bệnh học của xơ gan và làm tăng sự lắng đọng sắt cũng như đề kháng insulin. Một nghiên cứu ban đầu về chất đối kháng thụ thể angiotensin II – losartan ở 7 bệnh nhân VGMKDR đã cho thấy có tác dụng trên các chất chỉ điểm xơ gan trong máu và mức men gan [11]. Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa.

Pentoxifyllin: Pentoxifyllin ức chế sự sản xuất TNF anpha, yếu tố tham gia vào cơ chế VGMKDR. Sự cải thiện sinh hóa đã được mô tả trong 2 nghiên cứu khởi đầu với tổng số 38 bệnh nhân. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu [19], 9 trong 20 bệnh nhân đã bị đưa ra khỏi nghiên cứu do nhiều tác dụng phụ.

Orlistat: Orlistat là chất ức chế lipase dạ dày ruột, được sử dụng trong điều trị béo phì và đái tháo đường týp 2. Một thử nghiệm có kiểm chứng ngẫu nhiên ở những bệnh nhân VGMKDR cho thấy sự giảm đáng kể khối mỡ trong gan khi đánh giá qua siêu âm. Mức men gan huyết thanh cũng giảm nhiều hơn ở nhóm dùng orlistat so với dùng giả dược. Hiệu quả về mô bệnh học và sinh hóa cũng được tìm thấy ở một loạt trường hợp bệnh nhân VGMKDR béo phì [7].

Tuy nhiên, những số liệu trái ngược nhau đã được công bố; một thử nghiêm ngẫu nhiên có kiểm soát ở 50 bệnh nhân có phân tích từng trường hợp cho thấy không có hiệu quả trên mô học gan, trên sự đề kháng insulin cũng như các xét nghiệm sinh hóa gan.Trong khi đó, ở những phân tích nhỏ hơn, những bệnh nhân giảm ≥ 5% cân nặng trong 9 tháng có sự cải thiện sự đề kháng insulin và giảm ≥ 9 % cân nặng đã đạt được sự cải thiện về mặt mô bệnh học của gan.

Các tác nhân chống oxi hóa

Vitamin E và C: Dựa trên vai trò làm giảm các stress oxi hóa của vitamin E, người ta đã dùng nó cho bệnh nhân VGMKDR. Một thử nghiệm không kiểm soát ở trẻ em cho thấy rằng chế độ bổ sung 400 – 1200 UI vitamin E mỗi ngày có thể làm giảm một cách có ý nghĩa các men gan [8]. Tác dụng giảm men gan của vitamin E cũng được ghi nhận trong báo cáo sơ bộ của một thử nghiệm có kiểm soát khi so sánh giữa dùng vitamin E đơn thuần với dùng kết hợp vitamin E và pioglitazon; tuy nhiên, sự cải thiện mô học chỉ thấy trong liệu pháp kết hợp [6]. Một thử nghiệm dùng giả dược có kiểm soát ở 45 bệnh nhân đã kết luận rằng liệu trình điều trị 6 tháng với sự kết hợp 1000IU vitamin E và 1000mg vitamin C mỗi ngày làm cải thiện đáng kể tình trạng xơ hóa gan [17] nhưng lại không có lợi về phương diện hoại tử.

Một số chuyên gia về bệnh gan đã sử dụng vitamin E dựa trên những kinh nghiệm nêu trên. Tuy nhiên, khi mà ngày càng có nhiều mối quan tâm về sự gia tăng tỷ lệ tử vong liên quan đến việc bổ sung vitamin E cộng với không đủ bằng chứng thuyết phục về lợi ích của nó trong VGMKDR, chúng tôi không khuyến cáo dùng bổ sung vitamin E ở những bệnh nhân này.

Silymarin: là chất được chiết xuất từ quả và hạt của cây Silybum marianum, có tính chất chống oxi hoá và bảo vệ gan. Một nghiên cứu thí điểm ở bệnh nhân VGMKDR cho thấy khi sử dụng kết hợp 4 viên sylibinin 94mg và 4 viên vitamin E loại 90mg/ ngày có tác dụng cải thiện men gan và đề kháng insulin.

 Probucol: Probucol là một thuốc làm hạ lipid với hoạt tính chống oxi hóa, một số nghiên cứu lâm sàng bước đầu cho thấy thuốc có tác dụng làm giảm men gan một cách có ý nghĩa, tuy nhiên hiệu quả của nó trên mô học của gan thì chưa được chứng minh .

PGS.TS. Trần Văn Huy – BS. Trần Quang Trung
BM Nội – ĐH Y Dược Huế